Blog

Người cao tuổi cần ăn, uống gì để tăng đề kháng chống lại COVID-19

0

Suckhoedoisong.vn – Người cao tuổi và người có bệnh mạn tính mắc bệnh COVID-19 chiếm tỷ lệ cao, là do họ có sức đề kháng và miễn dịch kém hơn các đối tượng khác.

Theo thống kê về các đối tượng mắc bệnh COVID-19, thì người cao tuổi và người mắc bệnh mạn tính chiếm tỷ lệ cao, do sức đề kháng và miễn dịch kém hơn các đối tượng khác. Sức đề kháng và miễn dịch của con người được hình thành và phát triển kể từ khi họ được sinh ra, điều kiện quyết định để tạo ra sức đề kháng và miễn dịch khỏe mạnh là do chế độ dinh dưỡng lành mạnh, cân đối và lối sống.

Theo ThS. BS Nguyễn Văn Tiến – Viện Dinh dưỡng đối với người cao tuổi nhu cầu năng lượng của người 60 tuổi giảm đi 20%, ở người trên 70 tuổi giảm đi 30% so với người 25 tuổi. Theo khuyến nghị với người cao tuổi nhu cầu về năng lượng là từ 1700-1900 kcal/người/ngàyNhu cầu protein từ 60-70 gam/ngày, trong đó đạm động vật chiếm 30% tổng số protein. Người cao tuổi ăn ít thịt, thay vào đó là các thực phẩm giàu can xi như: cá, tôm, cua (100 g tép chứa 910 mg can xi, 100 g cua chứa 5040 mg can xi). Nên ăn ít nhất 3 bữa cá/1 tuần, 3 quả trứng/ 1 tuần, nên ăn thêm sữa chua (dễ tiêu và có lợi cho tiêu hóa). Về chất béo: nên ăn cả dầu thực vật và mỡ động vật, tỷ lệ chất béo thực vật chiếm 35% tổng lượng chất béo.

ThS. BS Nguyễn Văn Tiến (Viện Dinh dưỡng) chia sẻ về ăn, uống gì để tăng đề kháng chống lại COVID-19.

Luôn đảm bảo ăn 3-4 bữa mỗi ngày, ăn nóng, thức ăn nên luộc, hấp nấu chín mềm. Nếu ăn không đủ nên uống thêm các loại sữa bổ sung dinh dưỡng, từ 1-2 cốc mỗi ngày, BS Tiến nhấn mạnh.

Cũng theo BS Tiến, những người đang mắc các bệnh mạn tính: như đái tháo đường, tăng huyết áp, bệnh gout,… cần thực hiện nghiêm ngặt theo chỉ định của bác sỹ điều trị và bác sĩ dinh dưỡng về sử dụng thuốc điều trị thường xuyên và thực hiện chế độ dinh dưỡng bệnh lý.

Vai trò của một số vitamin và khoáng chất để nâng cao sức đề kháng và miễn dịch:

  • Vitamin A: Có vai trò rõ rệt cả với miễn dịch dịch thể và miễn dịch tế bào. Tỷ lệ tử vong do nhiễm khuẩn ở trẻ em mà nguyên nhân do thiếu vitamin A rất cao. Những nghiên cứu gần đây đã khẳng định rằng biện pháp bổ sung vitamin A có thể làm giảm 23% tử vong ở trẻ em. Thiếu vitamin A làm giảm sức đề kháng – miễn dịch tăng nguy cơ mắc bệnh nhiễm trùng và tăng tỷ lệ tử vong ở trẻ em. Thiếu vitamin A các biểu mô quá sản, sừng hoá, các tuyến ngoại tiết giảm bài tiết, khả năng ngăn cản sự xâm nhập của vi khuẩn giảm đi. VitaminA có nhiều trong gấc, rau ngót rau dền cơm, gan gà, gan lợn, gan bò,…
  • Vitamin E: Vitamin E làm tăng tính miễn dịch bằng cách bảo vệ tế bào khỏi bị tổn thương, do đó tăng sức đề kháng của cơ thể với các bệnh nhiễm khuẩn mạnh hơn, làm chậm tiến triển bệnh sa sút trí tuệ (Alzheimer), bảo vệ vitamin A và chất béo của màng tế bào khỏi bị o xy hóa, tham gia vào chuyển hóa tế bào. Vitamin E bảo vệ các chất béo trong não khỏi các gốc tự do, đặc biệt là các chất béo omega-3 DHA và EPA, trong đó tập trung ở tế bào thần kinh. Vitamin E có nhiều trong các thực phẩm nguồn gốc tự nhiên: đậu tương, giá đỗ, vừng lạc, mầm lúa mạch, dầu hướng dương, dầu ô-liu và các loại rau có lá màu xanh đậm.
  • Vitamin C: Vai trò tăng cường miễn dịch, cần thiết cho các tế bào miễn dịch T và bạch cầu, từ đó làm tăng chức năng của hệ miễn dịch. Thiếu vitamin C, sự nhậy cảm với các bệnh nhiễm khuẩn tăng lên, tính thấm mao mạch tăng, mạch dễ vỡ, da khô ráp. Nếu ăn đủ vitamin C, các glubulin miễn dịch IgA và IgM tăng, hoạt tính của bạch cầu tăng, kích thích chuyển dạng các lymphô bào và giúp tạo thành các bổ thể. Hơn 90% lượng vitamin C có trong khẩu phần ăn được cung cấp từ các loại trái cây và rau củ. Các thực phẩm giàu vitamin C: rau ngót, rau mùi tàu, rau dền, rau đay, rau mồng tời, hành hoa, …trong các loại quả như bưởi, đủ đủ, quýt, cam, chanh,…
  • Vitamin D: Là một vitamin tan trong chất béo, có liên quan đến các chức năng khác nhau của hệ thống miễn dịch, tiêu hóa, tuần hoàn và thần kinh. Nguồn chính của vitamin D là tổng hợp ở da dưới ảnh hưởng của bức xạ tia cực tím mặt trời B (UV-B) chiếm 80-90% và khoảng 10-20% do chế độ ăn uống, do đó, mỗi ngày cần tắm nắng từ 15-30 phút, tăng cường sử dụng các thực phẩm giàu vitamin D như gan cá, lòng đỏ trứng, cá, hải sản… cho bữa ăn hàng ngày.
  • Vitamin nhóm B: Trong các vitamin nhóm B, vai trò các folat và pyridoxin đáng chú ý hơn cả. Thiếu folat làm chậm sự tổng hợp của các tế bào tham gia vào các cơ chế miễn dịch. Tương tự như thiếu sắt, miễn dịch dịch thể ít bị ảnh hưởng hơn miễn dịch qua trung gian tế bào. Trên thực tế ở trẻ em nhất là phụ nữ có thai, thiếu folat thường đi kèm thiếu sắt là hai yếu tố gây thiếu máu dinh dưỡng. Thiếu pyridoxin (vitamin B6) làm chậm các chức năng miễm dịch, cả dịch thể và trung gian tế bào. Các vitamin  nhóm B có nhiều trong cám gạo, ngũ cốc, các loại hạt đậu, mè, mầm lúa mì, tim, gan.

Tăng cường ăn rau quả để tăng sức đề kháng.

Vai trò của một số chất khoáng và miễn dịch.

Rất nhiều chất khoáng và vi khoáng tham gia vào miễn dịch, trong đó vai trò của sắt, kẽm được nghiên cứu nhiều hơn cả.

  • Sắt: Sắt cần thiết cho tổng hợp AND, nghĩa là nó cần thiết cho quá trình phân bào. Ngoài ra sắt còn tham gia vào nhiều enzym can thiệp vào quá trình phân giải bên trong tế bào. Thiếu sắt, nhiễm khuẩn tăng. Sắt gây ảnh hưởng đến miễn dịch qua trung gian tế bào hơn là miễn dịch dịch thể. Sắt có nhiều trong mộc nhĩ, nấm hương, rau dền đỏ, đậu tương, tiết bò, bầu dục lợn, lòng đỏ trứng vịt, cua đồng,..
  • Kẽm: Kẽm giúp tăng cường miễn dịch, giúp làm vết thương mau lành và giúp duy trì vị giác và khướu giác. Kẽm tham gia vào hàng trăm enzym chuyển hóa trong cơ thể, vì vậy khi thiếu kẽm trẻ dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp, tiêu hóa do giảm sức đề kháng. Ngoài ra khi thiếu kẽm trẻ thường có biểu hiện biếng ăn chậm lớn, chậm phát triển chiều cao. Các thức ăn giàu kẽm như thịt, cá, tôm, sò, sữa, trứng, ngao, hàu,..

Giá trị dinh dưỡng có trong 100g của một số loại rau xanh và hoa quả như sau:

Trong các kết quả nghiên cứu cho thấy:

Rau xanh: rau ngót, rau đay, rau dền là những loại có gía trị dinh dưỡng cao, đồng đều về hàm lượng caroten, vitamin C  (179 – 64 – 52 mg%), hàm lượng sắt (2,8 – 2,5 – 2,1 mg%), giàu các muối khoáng, vi khoáng, lượng protein cao gấp 3 – 5 lần các loại rau khác (3 – 6 g%). Rau muống có giá trị dinh dưỡng trung bình (380 mcg% retinol; 2,8 mg% vitamin C; 1,2 mg% sắt).

Các loại rau gia vị như: mùi, tía tô, húng, thìa là,..có hàm lượng caroten cao và đồng đều hơn so với rau ăn và quả ngọt, cao nhất là tía tô, húng quế, ớt vàng, đồng thời chúng giàu sắt (1- 3 mg% ). Rau gia vị lại được sử dụng tươi sống không bị tổn thất dinh dưỡng qua nấu nướng, nên giá trị sử dụng các vitamin rất cao. Ngoài ra các rau gia vị còn cung cấp nguồn kháng sinh thực vật rất có giá trị.

Các loại quả chín màu vàng, đỏ, da cam như: đu đủ, hồng, dưa hấu, cam, quýt vàng có hàng lượng caroten khá cao và giàu sắt (0,9 – 1,2 mg%). Đặc biệt màng gấc tươi có hàm lượng caroten đặc biệt cao. Đây là một loại quả qúi được nhiều người quan tâm nghiên cứu về khả năng phòng bệnh thiếu vitamin A, chống oxy hoá và ung thư.

Hà Đăng ( ghi)

Các vấn đề tiêu hóa thường gặp ở người cao tuổi

0

Suckhoedoisong.vn – Hệ tiêu hóa là một trong những bộ phận quan trọng bậc nhất của cơ thể. Tiêu hóa là chức năng tối quan trọng.

Nó cung cấp dinh dưỡng đi nuôi cơ thể suốt từ khi sinh ra đến khi trưởng thành và dặm dài sự sống của con người. Ở người cao tuổi, chức năng tiêu hóa kém dần, các bệnh của hệ tiêu hóa cũng dễ gặp hơn…

Khi tuổi cao, hệ tiêu hóa đồng thời giảm cả 3 chức năng: co bóp, tiết dịch và hấp thu. Chính vì những lý do này mà nhiều chứng bệnh đường tiêu hóa phát sinh như nghẹn, nấc, đầy bụng, táo bón hoặc phân không thành khuôn.

Nghẹn

Theo tiến trình tự nhiên, lớp cơ của hệ tiêu hóa khi về già đều ít hay nhiều teo đi và do vậy giảm sức co bóp. Bình thường, các thớ cơ vòng ở thực quản luôn luôn ở tình trạng co nhẹ (có trương lực) khiến ống này kín mít, nhưng khi làm động tác “nuốt” thì đoạn trên thực quản mở ra để nhận thức ăn và ngay sau đó co lại để đẩy thức ăn xuống đoạn dưới (đã kịp mở ra chờ đón); cứ vậy, thức ăn bị đẩy xuống dạ dày chỉ hết vài ba giây đồng hồ.

Nhưng ở người cao tuổi, đoạn thực quản vừa giãn (hay vừa co) thì “trơ” ra, phải mất thời gian lâu hơn mới phục hồi để co (hay giãn) tiếp được, nhất là sự phối hợp co – giãn của đoạn trên với đoạn dưới mất nhịp nhàng làm người già dễ bị nghẹn. Do vậy, trong bữa ăn, người già thường phải tạm ngừng ăn một chút, uống một ngụm nước nhỏ rồi mới ăn tiếp. Tuy nhiên, nếu nghẹn xảy ra liên tiếp, nhiều lần thì cần gặp thầy thuốc, vì rất có thể chứng nghẹn bắt nguồn từ nguyên nhân khác.

Duy trì chế độ ăn với đủ thành phần, uống đủ nước và thường xuyên luyện tập sẽ giúp người cao tuổi có hệ tiêu hóa khỏe mạnh.

Sa dạ dày

Nếu dạ dày co bóp kém có thể làm dạ dày sa xuống thấp ở các mức độ từ nhẹ tới nặng (gặp ở 1/3 số người trên 70 tuổi). Trường hợp dạ dày sa xuống thấp sẽ gây cảm giác đầy bụng sau khi ăn: thức ăn tồn lưu rất lâu trong dạ dày, gây cảm giác ậm ạch, nặng bụng.

Một nguyên nhân khác làm sa dạ dày là các bắp thịt (cơ) ở thành bụng bị “nhẽo” – mà bằng chứng là khi đứng thẳng, bụng cứ trướng ra phía trước mà không liên quan đến lớp mỡ dày ở thành bụng.

Sỏi mật

Từ tuổi 40, túi mật đã bắt đầu có dấu hiệu “già”, túi mật teo đi (chứa được ít mật), các cơ ở vách túi mật kém sức co bóp (đẩy không hết mật xuống ruột). Ngoài ra, gan cũng kém sản xuất mật, lượng mật còn sót lại dễ tạo sỏi. Do vậy, người già dễ mắc bệnh sỏi mật hơn người trẻ.

Cảm giác ăn không ngon

Sự co bóp các cơ ruột cũng thường suy giảm ở cơ thể người cao tuổi khiến thức ăn vận chuyển từ đoạn ruột trên xuống đoạn dưới chậm nên nhiều người cao tuổi thường không có cảm giác đói khi đến bữa ăn. Tuy nhiên, còn những nguyên nhân khác gây cảm giác mất ngon miệng như: suy giảm vị giác, lượng nước bọt, hoặc có một bệnh mạn tính khiến cơ thể mệt mỏi, đau đớn; hoặc đang lo lắng, bực dọc khiến tâm thần bất an hoặc do mất ngủ, cũng khiến bữa ăn kém ngon miệng.

Viêm loét dạ dày

Khi độ toan ở dịch vị giảm (do tuổi cao), vi khuẩn Helicobacter Pylori (viết tắt là HP) sẽ gây viêm loét dạ dày. Ngoài ra, người cao tuổi có thể bị viêm loét dạ dày do tác dụng phụ của một số thuốc người cao tuổi hay dùng như thuốc xương khớp, thuốc tim mạch…

Táo bón

Táo bón (khó đại tiện, đại tiện phân khô và rắn) là vấn đề thường gặp nhất ở người cao tuổi. Do giảm nhu động của đại tràng cản trở thức ăn di chuyển trong phần còn lại của ống tiêu hóa và đi ra ngoài cơ thể. Tăng thời gian lưu thông của khối thức ăn trong ruột làm tái hấp thu nước nhiều hơn dẫn tới tỷ lệ táo bón gia tăng ở người cao tuổi. Táo bón dễ thành mạn tính và ảnh hưởng lớn đến sức khỏe, nếu không được điều trị kịp thời có thể đe dọa tính mạng. Bên cạnh các thay đổi theo tuổi, hạn chế vận động cũng là tác nhân chủ yếu gây ra táo bón. Uống đủ nước là một trong những khuyến cáo nhằm giảm thiểu tối đa nguy cơ táo bón ở người cao tuổi. Lượng nước đưa vào hàng ngày nên là 0 -35ml/kg cân nặng. Duy trì chế độ ăn với đủ thành phần, các loại rau lá xanh và ngũ cốc cũng rất tốt cho điều trị táo bón. Tập thể dục đem lại hiệu quả nhanh và đáng kể.

Són phân

Són phân là việc rỉ phân ngoài ý muốn. Rỉ phân có thể xảy ra một phần do tuổi cao nhưng cũng có thể do: tiền sử són tiểu, bệnh lý thần kinh, ít vận động, lú lẫn, người trên 70 tuổi. Giống như táo bón, chế độ ăn giàu chất xơ và đẩy đủ thành phần, đủ nước và luyện tập thường xuyên có thể giúp ngăn ngừa và điều trị són phân. Với bệnh nhân không đủ minh mẫn, cần phải luyện tập thói quen đi ngoài. Việc này có thể được thực hiện bằng cách xác định thời gian thường són phân trong ngày thông qua nhật ký đại tiện. Khi quy luật thời gian của són phân đã được xác định, người cao tuổi có thể được khuyến khích và hỗ trợ đi đại tiện khoảng nửa giờ trước thời gian són phân bình thường. Với những trường hợp nặng, cơ thắt hậu môn có thể bị rách và cần phẫu thuật để điều trị.

BS. Vũ Tuân

Người cao tuổi dễ bị bệnh tật tấn công

0

Suckhoedoisong.vn – Người già và người mắc bệnh mạn tính có nguy cơ cao hơn. Chức năng miễn dịch của chúng ta suy giảm theo tuổi tác cũng như sẽ bị các bệnh mạn tính gây tổn thương. Điều đó khiến người lớn tuổi trở thành nhóm nguy cơ cao dễ bị bệnh nặng hơn và dễ bị biến chứng nặng khi mắc bệnh, như COVID-19.

BV Nhiệt đới Trung ương cơ sở 2 (Đông Anh, Hà Nội) ghi nhận nhiều bệnh nhân đã có kết quả xét nghiệm âm tính 1 lần. Tuy nhiên, vẫn có một số trường hợp nhiễm COVID-19 nặng cần được theo dõi hồi sức tích cực như trường hợp nữ bệnh nhân người Việt 64 tuổi, kèm bệnh lý nền là rối loạn tiền đình và nam bệnh nhân người Anh 69 tuổi, kèm bệnh lý nền là tăng huyết áp, đái tháo đường type 2.

Miễn dịch bị “mài mòn” theo tuổi tác và bệnh lý

Ngay cả trước khi virus corona chủng mới gây ra đại dịch COVID-19 lây lan ở gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, dữ liệu ban đầu từ Trung Quốc – nơi dịch bệnh bắt đầu – cho thấy rằng người lớn tuổi dễ bị tổn thương nhất trước những tác động xấu của căn bệnh này. Giờ đây, dữ liệu đó, cùng với nghiên cứu mới nổi từ Ý – quốc gia chịu ảnh hưởng lớn thứ hai trên thế giới – đang cho thấy COVID – 19 nguy hiểm như thế nào đối với người cao tuổi và những người mắc phải các bệnh mạn tính trước đó như bệnh tim mạch, bệnh phổi, đái tháo đường hay các bệnh liên quan đến hệ miễn dịch.

Phân tích của Viện Y tế Quốc gia Ý, đến ngày 4/3/2020, cho thấy trong số 105 bệnh nhân tử vong vì COVID-19, tuổi trung bình là 81. Điều này đã đưa đến khoảng cách 20 năm giữa độ tuổi trung bình người dễ dương tính với virus SARS – CoV – 2 gây ra và độ tuổi tử vong. Trong khi đó, một bác sĩ làm trong Khoa Chăm sóc đặc biệt ICU thuộc vùng Lombardy – tâm chấn của sự bùng phát dịch COVID-19 của Ý – chia sẻ nhanh với tạp chí y khoa chuyên ngành nội khoa JAMA Internal Medicine, mới chỉ có 2 ca tử vong ở người dưới 50 tuổi.

Theo thời gian, các hệ thống cơ thể chúng ta sử dụng để chống lại bệnh tật bắt đầu bị “mài mòn”. Tuy nhiên, tuổi tác không nói lên toàn bộ câu chuyện về người có nguy cơ mắc bệnh hiểm nghèo, bên cạnh đó còn có nhiều bệnh nhân nhiễm COVID – 19 trên nền các bệnh mạn tính kèm theo. Cơ thể không chỉ gặp khó khăn hơn trong việc chống lại tác nhân bệnh tật hoàn toàn mới chưa từng được các tế bào miễn dịch nhận diện như căn bệnh nhiễm trùng mới COVID-19, mà còn do ảnh hưởng tiêu cực bởi các bệnh mạn tính khác càng làm hệ thống miễn dịch yếu hơn.

Những nguy cơ tiềm ẩn chờ chực

Trên thực tế, người ta còn nhận thấy các lỗ hổng tiềm ẩn trong dân số rộng lớn hơn đối với một căn bệnh mới nổi như COVID-19. Nhiều trong số các yếu tố này tập trung không chỉ ở nhóm người lớn tuổi, những người trẻ tuổi hơn với một số vấn đề sức khỏe tiềm ẩn cũng là một mối nguy cơ chờ chực.

Trong một báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới về sự bùng phát dịch COVID – 19 tại Trung Quốc, tỷ lệ tử vong trong trường hợp ở những người không ghi nhận có bệnh mạn tính là 1,4%, nhưng nó đã tăng lên trong các nhóm kèm với bệnh mạn tính là 13,2% ở những người mắc bệnh tim mạch, 9,2% cho bệnh đái tháo đường, 8,4% cho bệnh tăng huyết áp, 8,0% cho bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và 7,6% cho bệnh ung thư.

Trong số 105 bệnh nhân đã chết ở Ý tính đến ngày 4/3/2020 nói trên, 2/3 có kèm theo 3 hoặc nhiều hơn các vấn đề sức khỏe từ trước đó. Phổ biến nhất là tăng huyết áp, tiếp theo là bệnh tim thiếu máu cục bộ và đái tháo đường. Những bệnh mạn tính này có thể khiến các cơ quan trong cơ thể xuống cấp và dễ bị nhiễm trùng hơn.

Trong khi đó, người cao tuổi Việt Nam thường mắc kèm theo 2 – 3 bệnh khác, như tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, thoái hóa xương khớp, loãng xương…

Ở người lớn tuổi, số lượng tế bào bạch cầu tìm và loại bỏ các tác nhân gây nhiễm trùng có thể bị suy giảm. Các tế bào cũng trở nên già nua, chậm chạp hơn trong việc xác định mầm bệnh mới để chiến đấu chống lại. Trong trường hợp COVID-19, virus cũng có thể làm hỏng các tế bào miễn dịch nhiều hơn là tế bào miễn dịch “tìm và diệt” virus. Lực lượng ít đi, tế bào miễn dịch sẽ cũng trở nên yếu thế hơn trong cuộc chiến chống lại virus, COVID-19 có thể bắt đầu tấn công phổi, một mảnh đất rất quen thuộc với chủng loại virus corona và gây ra viêm phổi nghiêm trọng trên người bệnh cao tuổi hay có kèm theo các bệnh mạn tính.

Nhưng nói chung, các bệnh về đường hô hấp có thể đặc biệt nguy hiểm đối với những người mắc bệnh lý tim mạch. Khi phổi không hoạt động bình thường, hệ thống tim mạch phải làm việc nhiều hơn. Các nhà nghiên cứu cũng đã biết rằng bệnh đái tháo đường có thể làm hỏng hệ thống thần kinh và làm suy yếu các nỗ lực của cơ thể để diệt trừ nhiễm trùng từ phổi. Các tình trạng khác như lượng đường trong máu cao liên quan đến bệnh đái tháo đường cũng có thể ức chế các tế bào miễn dịch.Nếu người cao tuổi có một hệ thống miễn dịch mạnh mẽ để bắt đầu, rất có thể họ có vũ khí đủ mạnh để chiến đấu chống lại virus

Chăm sóc người cao tuổi, chặn đứng cơ hội của virus

Có những vấn đề khác liên quan đến lão hóa cũng đóng một vai trò ở đây. Người cao tuổi có thể mệt nhọc hơn khi ho và hắt hơi, khiến họ khó khăn hơn trong việc loại bỏ virus gây ra COVID-19, dễ dàng bị lây nhiễm qua đường thở. Tổn thương phổi tích lũy ở người cao tuổi từ những thói quen như hút thuốc hoặc hít thở không khí ô nhiễm có thể làm tăng thêm tổn thương.

Do đó, khi bị nhiễm virus, người tăng huyết áp và đái tháo đường không đủ sức chống lại, đồng thời kích hoạt nhiều rối loạn và dễ dẫn đến các biến chứng viêm nhiễm, như nhiễm khuẩn hô hấp, nhiễm khuẩn da, nhiễm khuẩn tiết niệu… hay suy tim, suy gan, suy thận, suy đa tạng… Điều trị càng trở nên phức tạp, bệnh càng diễn tiến nghiêm trọng hơn, thậm chí có thể dẫn đến suy hô hấp, suy đa phủ tạng phải thở máy, lọc máu…

Nếu người cao tuổi có một hệ thống miễn dịch mạnh mẽ để bắt đầu, rất có thể họ có vũ khí đủ mạnh để chiến đấu chống lại virus. Thực tế, chức năng miễn dịch của người cao tuổi không còn mạnh mẽ như khi còn trẻ tuổi. Nhưng các nghiên cứu như tại ĐH Y khoa Johns Hopkins (Mỹ) đã chỉ ra rằng các chức năng miễn dịch sẽ lao xuống dốc khá nhanh sau 75 hoặc 80 tuổi. Còn ở hầu hết mọi người, chức năng miễn dịch của họ vẫn còn khá ổn ở độ tuổi 60, hoặc thậm chí ở độ tuổi 70 và lâu hơn nữa nếu giữ nếp sống lành mạnh và điều độ.

Theo chiến lược mới trong phòng chống dịch COVID-19, các chuyên gia y tế đã khuyến cáo “mỗi gia đình có trách nhiệm bảo vệ nhóm người có yếu tố nguy cơ, trên 60 tuổi và có bệnh nền”. Trước diễn biến phức tạp của dịch bệnh hiện nay, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cũng đã khuyến cáo, người trên 60 tuổi hãy ở nhà. Theo đó, người cao tuổi cần phải giữ gìn vệ sinh cơ thể sạch sẽ, rửa tay thường xuyên, giữ ấm và làm sạch đường mũi họng, đeo khẩu trang nếu phải ra đường khi cần thiết, ăn uống đủ dinh dưỡng, tập luyện đều đặn để nâng cao sức khỏe, tăng cường đề kháng.

Để tăng cường sức khỏe của hệ miễn dịch, một điều quan trọng nữa là người cao tuổi phải uống nước thường xuyên trong ngày bằng trà ấm, nước lọc, nước hoa quả ép hay sữa. Người cao tuổi thường ít có cảm giác khát và ngại uống nước nhiều vì sẽ đi vệ sinh nhiều. Vì vậy, người trong gia đình phải thường xuyên nhắc nhở người lớn tuổi uống đủ nước, đặt các bình nước ấm ở nơi thuận tiện.

Ngay cả khi người cao tuổi ở trong nhà, bạn có thể để ông bà hay cha mẹ đi dọc theo hành lang, đi vòng quanh phòng, và nhớ lót thảm để tránh trượt chân, té ngã. Vận động, đi lại khiến máu huyết lưu thông, tốt cho sức khỏe người cao tuổi hơn là nằm hay ngồi mãi một chỗ.

Người cao tuổi còn thường dễ lâm vào tình trạng suy dinh dưỡng, mất cơ vì hệ thống tiêu hóa làm việc kém, không còn ngon miệng. Cơ thể theo đó cũng suy giảm miễn dịch, đáp ứng đề kháng kém. Vì vậy, bữa ăn của người cao tuổi cần được chú trọng nhiều hơn, chia thành các bữa ăn nhỏ trong suốt cả ngày. Người cao tuổi ăn thường xuyên có thể nạp vào cơ thể đủ năng lượng vào cuối ngày.

Chúng ta cũng có thể chế biến các bữa ăn ngon miệng hơn, với những thức ăn mềm. Ví dụ, thêm một quả trứng, 2 muỗng canh thịt băm và 1 muỗng cà phê dầu mè vào một bát cháo trắng, làm tăng hàm lượng protein từ 3g – 16g, cũng như giá trị năng lượng của bữa ăn từ 210 kcal – 372kcal. Bạn cũng có thể thêm bột sữa vào đồ uống có mạch nha, hoặc trà để tăng hàm lượng protein. Để sẵn đồ ăn nhẹ và đồ uống giàu năng lượng, nhiều đạm như bột ngũ cốc, bánh quy kem và sữa đậu nành. Uống thêm sữa giữa các bữa ăn chính, thay vì trong bữa ăn, để tránh cảm giác quá no.

Những bài học chúng ta học được từ chăm sóc nâng đỡ thể trạng, giữ tinh thần thoải mái cho đến kiểm soát tốt các bệnh lý nền cho những bệnh nhân lớn tuổi và người mắc các bệnh nền có thể giúp chúng ta điều trị và ngăn ngừa sự lây lan của dịch bệnhcho ông bà, cha mẹ. Điều đó vô cùng quan trọng để có thể phát triển một chiến lược bảo vệ sức khỏe cộng đồng giữa mùa dịch bệnh COVID-19 còn tiếp diễn phức tạp và kéo dài.

Thiếu canxi, trẻ có bị co giật?

0

Suckhoedoisong.vn – Con chị gái em 3 tháng tuổi, bé sinh tự nhiên, nặng 2,3kg. Bé được bú sữa mẹ nhưng gần đây tôi thấy các ngón tay bé thỉnh thoảng giật giật. Có người bảo bé bị thiếu canxi, còi xương. Xin hỏi có đúng không? Tại sao trẻ nhỏ thiếu canxi, còi xương lại co giật?


Nguyenhuong@gmail.com

Còi xương là do thiếu vitamin D. Khi thiếu vitamin này sự hấp thu canxi và chuyển hóa phospho và canxi sẽ bị rối loạn, làm cho xương vôi hóa kém, các mô sụn không biến thành xương được. Biểu hiện đặc trưng của bệnh còi xương cấp diễn ở trẻ dưới 6 tháng, đặc biệt ở lứa tuổi 3 tháng là tình trạng giảm canxi máu thể hiện bằng một loạt các triệu chứng gọi là cơn te-ta-ni hạ canxi máu hay cơn co giật do còi xương ở trẻ nhỏ.

Thực ra, hạ canxi máu là một tình trạng tiềm tàng và hầu như chỉ bộc lộ thành triệu chứng co giật nếu có một yếu tố khởi phát đột xuất (phổ biến là do sốt cao 38-40oC hoặc do một bệnh nhiễm khuẩn cấp tính nào đó. Đặc điểm của cơn co giật do hạ canxi máu là một tình trạng tăng kích thích thần kinh cơ, chứ không phải do một tổn thương thực thể nào. Nguyên nhân đưa đến còi xương ở lứa tuổi này (dưới 6 tháng) chủ yếu là do trẻ không được cung cấp đầy đủ vitamin D.

Nếu trẻ nuôi bằng sữa mẹ thì có thể là do chế độ ăn của người mẹ thiếu vitamin D, kiêng cữ quá mức, thiếu ánh sáng mặt trời. Để phòng còi xương, thiếu canxi ở trẻ nhỏ, cần bổ sung vitamin D, kèm theo canxi theo chỉ định của bác sĩ. Điều quan trọng, mẹ và bé cần được tắm nắng mỗi ngày 10-15 phút vào buổi sáng là biện pháp phòng bệnh còi xương tốt nhất.
BS. Nguyễn Anh

Vì sao tiêm phòng thủy đậu vẫn bị bệnh?

0

Suckhoedoisong.vn – Vaccin phòng bệnh thủy đậu được sản xuất từ chính virut gây bệnh đã chết hay rất yếu không gây bệnh được, nhưng kích thích cơ thể tạo ra kháng thể chống lại chúng.


Con tôi trai tôi 12 tuổi, bị mắc bệnh thủy đậu, mặc dù đã được tiêm phòng bệnh này khi cháu trên một tuổi. Bác sĩ cho biết vì sao đã tiêm phòng bệnh thủy đậu mà vẫn mắc bệnh?

Trần Lệ Quyên (Nam Định )

Vaccin phòng bệnh thủy đậu được sản xuất từ chính virut gây bệnh đã chết hay rất yếu không gây bệnh được, nhưng kích thích cơ thể tạo ra kháng thể chống lại chúng. Nhờ đó, khi bị nhiễm virut thì cơ thể đã có sẵn vũ khí chống trả nên không mắc bệnh nữa. Sau khi tiêm vacin có hiệu lực từ hơn 3 tuần và thời gian miễn dịch kéo dài trung bình là 15 năm. Song do vacin không có hiệu nghiệm 100%, mà chỉ có tác dụng trong khoảng 90%, nên một số trẻ tuy đã tiêm chủng vẫn bị mắc bệnh. Mặt khác theo thời gian, nồng độ kháng thể có thể bị giảm đi, khiến cho cơ thể không đủ sức chống lại virut thủy đậu gây bệnh.

Vì vậy con bạn có thể bị mắc bệnh thủy đậu khi 12 tuổi mặc dù cháu đã được tiêm phòng lúc hơn một tuổi. Muốn phòng tránh trường hợp mắc bệnh như vậy, hiện nay người ta khuyến nghị trẻ em phải tiêm nhắc lại thêm mũi vacin phòng thủy đậu thứ hai vào lúc 4 tuổi. Bạn cũng nên biết rằng dù thuốc tiêm phòng không bảo vệ 100% nhưng con bạn đã tiêm phòng mà mắc bệnh thì bệnh sẽ nhẹ hơn nhiều, cháu chỉ bị vài nốt thủy đậu thay vì bị rất nhiều nốt như ở trẻ không tiêm phòng.
BS. Trần Thanh Tâm

Viêm loét hang vị dạ dày gây biến chứng gì?

0

Suckhoedoisong.vn – Tôi đau bụng ê ẩm, lúc nào cũng cảm giác trướng đầy. Tôi đi khám nội soi kết luận viêm hang vị dạ dày, H. pylori (+).


Tôi đau bụng ê ẩm, lúc nào cũng cảm giác trướng đầy. Tôi đi khám nội soi kết luận viêm hang vị dạ dày, H. pylori (+). Xin hỏi bác sĩ bệnh này gây biến chứng gì? Ngoài việc dùng thuốc theo đơn tôi phải kiêng những gì?

Nguyễn Văn Khiêm (Hà Nội)

Hang vị là từ dùng để chỉ phần nằm ngang của dạ dày, từ góc bờ cong nhỏ tới lỗ môn vị (theo thứ tự từ trên xuống dưới dạ dày chia thành phình vị, thân vị, hang vị và lỗ môn vị). Biểu hiện chủ yếu là đau và rối loạn tiêu hoá. Vị trí đau thường gặp nhất là vùng thượng vị (trên rốn), đau âm ỉ hoặc đau dữ dội; Rối loạn tiêu hóa như đầy hơi, trướng bụng, bụng cồn cào kèm theo ợ hơi, ợ chua, có thể có cảm giác buồn nôn hoặc nôn, phân có khi nát có khi lỏng, có khi táo. Biến chứng thường gặp nếu có loét là chảy máu ổ loét, có thể ồ ạt phải cấp cứu hoặc chảy máu ri rỉ làm bệnh nhân thiếu máu da xanh xao. Có bệnh nhân bị thủng dạ dày do loét ngầm. Đặc biệt, nếu viêm do HP lâu ngày dẫn tới viêm teo là nguyên nhân gây ung thư hoá. Trường hợp của bác đã nội soi và được chẩn đoán viêm hang vị dạ dày do HP thì bác cần tuyệt đối tuân thủ phác đồ điều trị theo đơn. Ngoài ra, chế độ ăn uống cần chú ý: Không bỏ bữa. Ăn chia thành nhiều bữa nhỏ trong ngày, không nên để quá đói hoặc quá no. Ăn các thức ăn mềm, dễ tiêu hóa, ít mỡ, ít chất kích thích gây tăng tiết dịch vị như món cay, chua, mặn… Bỏ thuốc lá và rượu; tránh làm việc quá căng thẳng, nghỉ ngơi, sinh hoạt hợp lý.

BS. Vũ Hồng Ngọc

Uống thuốc tránh thai, sao vẫn có thai?

0

Suckhoedoisong.vn – Tôi 30 tuổi, đã có 1 con, vòng kinh không đều, vì vậy gần như tháng nào tôi cũng phải dùng 1 lần thuốc tránh thai khẩn cấp…


Tôi 30 tuổi, đã có 1 con, vòng kinh không đều, vì vậy gần như tháng nào tôi cũng phải dùng 1 lần thuốc tránh thai khẩn cấp, vậy mà có tháng tôi vẫn có bầu. Tôi muốn hỏi về tính an toàn của thuốc, khả năng mang thai sau khi dùng thuốc lâu dài (sắp tới tôi muốn sinh con thứ 2). Mong bác sĩ tư vấn.

Vũ Thanh H. (Hà Nội)

Loại thuốc tránh thai khẩn cấp là thuốc chứa progestine liều cao, có tác dụng ngăn cản hoặc làm chậm quá trình rụng trứng, có thể ngăn chặn việc làm tổ của trứng, làm biến đổi lớp nội mạc tử cung và có khả năng ngăn ngừa sự thụ thai. Tác dụng của thuốc cũng làm cho dịch nhầy ở cổ tử cung bị đặc lại và dày lên để ngăn tinh trùng xâm nhập vào tử cung hoặc gây cản trở đường đi của tinh trùng hoặc trứng trong vòi trứng của tử cung.

Viên thuốc tránh thai khẩn cấp được uống càng sớm càng tốt, nhất là trong vòng 72 giờ (3 ngày) sau khi có quan hệ tình dục không được bảo vệ. Đến ngày thứ 5 sau khi có quan hệ tình dục vẫn có thể sử dụng nhưng theo nguyên tắc nếu uống càng sớm thì hiệu lực tác dụng của thuốc sẽ càng cao và có thể làm giảm nguy cơ mang thai đến 85%. Hiệu quả của thuốc sẽ càng giảm đi nếu dùng nhiều lần.
Vì vậy, thuốc tránh thai khẩn cấp cũng không có tác dụng tránh thai tuyệt đối. Người sử dụng vẫn có thể mang thai dù đã dùng thuốc. Trong một số trường hợp nếu không có kinh nguyệt trở lại trong vòng 4 tuần sau khi uống thuốc tránh thai khẩn cấp thì có khả năng đã mang thai, vì vậy phải đến ngay cơ sở y tế để được hỗ trợ, giúp đỡ.

Theo chỉ định, thuốc này chỉ dùng cho những người khỏe mạnh và không được dùng quá 2 lần trong một tháng, không dùng quá 6 tháng liên tục. Dùng thuốc này quá nhiều, về lâu dài sẽ gây hạn chế sự rụng trứng, làm teo niêm mạc tử cung, trứng không làm tổ được, dẫn tới vô sinh.

Để an toàn và quá trình mang thai đứa con thứ 2 thuận lợi, bạn nên tham khảo ý kiến bác sĩ để dùng biện pháp tránh thai khác. Chúc bạn thành công.

DS. Trần Phan Anh

Rối loạn thần kinh tim nên ăn uống sinh hoạt thế nào?

0

Suckhoedoisong.vn – Tôi đợt này hay mệt mỏi, hay choáng váng và có cảm giác đau ngực, đi khám bác sĩ nói bị rối loạn thần kinh tim.


Tôi đợt này hay mệt mỏi, hay choáng váng và có cảm giác đau ngực, đi khám bác sĩ nói bị rối loạn thần kinh tim. Ngoài việc dùng thuốc theo chỉ dẫn thì tôi nên ăn uống sinh hoạt như thế nào?

Vũ Mai (Nghệ An)

Những hiện tượng như tim đập nhanh hoặc chậm, hay hồi hộp, choáng váng, chóng mặt, ngất; thỉnh thoảng có cảm giác đau tức, đau nhói, nặng nề ở vùng tim, nhưng khi đi khám tim lại không phát hiện được các tổn thương bệnh lý ở các hệ thống van tim, cũng như khi đo điện tim không tìm thấy có những dấu hiệu biến đổi rõ ràng… được gọi chung là rối loạn thần kinh tim. Đa số những trường hợp rối loạn thần kinh tim xảy ra là do tình trạng không ổn định của hệ thần kinh trung ương và một phần của hệ thống thần kinh tự động trong tim gây ra. Đối với bệnh này, cách điều trị tốt nhất là thay đổi lối sống như không nên thức quá khuya, không được sử dụng các chất kích thích như uống rượu, hút thuốc, uống trà đậm, cà phê…

Người bệnh phải được nghỉ ngơi hoàn toàn trong một khoảng thời gian nhất định từ 1 – 3 tháng ở những nơi yên tĩnh; tránh bị xúc động quá mức hoặc căng thẳng thần kinh. Nên ăn nhiều rau quả tươi. Nên tập thể dục thể thao đều đặn với những môn thể thao hữu ích có lợi cho người bệnh như đi bộ, bơi lội, thái cực quyền… Ngoài những việc trên, người bệnh thường được chỉ định dùng thuốc an thần khi xúc động mạnh, tim đập dồn dập, khó ngủ hoặc mất ngủ. Việc dùng thuốc phải tuyệt đối theo chỉ định của bác sĩ điều trị.

ThS. Hà Hùng

Viêm hạch có nguy hiểm?

0

Suckhoedoisong.vn – Con trai tôi 4 tuổi, gần đây tự nhiên hay nổi hạch ở bẹn, có khi ở nách, sau đó biến mất, đôi khi kèm sốt. Tôi rất lo lắng không hiểu cháu bị bệnh gì? Liệu có nguy hiểm không? Xin bác sĩ tư vấn!


Ngô Việt Anh (Hà Nội)

Viêm hạch là một tình trạng nhiễm trùng của các hạch lympho thuộc hệ bạch huyết của cơ thể. Các hạch lympho này là một phần trong hệ thống miễn dịch của cơ thể, tạo ra kháng thể giúp chống lại sự xâm nhập của các vật lạ (siêu vi, vi trùng). Các hạch viêm thường hay gặp nhất là ở cổ, nách, bẹn. Viêm hạch có thể là hậu quả của nhiễm khuẩn ở các vùng lân cận như viêm hạch cổ thường xuất hiện sau viêm nhiễm ở mũi, amiđan, ổ răng, vòm họng, viêm hô hấp trên vì vi khuẩn có thể xâm lấn sang hạch lympho và gây viêm nhiễm.

Viêm hạch bẹn thường xuất hiện sau nhiễm khuẩn đường tiết niệu – sinh dục. Một số trường hợp viêm hạch có thể là khởi phát và là dấu hiệu báo động cho một bệnh lý ác tính tiềm ẩn. Khi hạch vùng nào bị viêm sẽ xuất hiện một khối sưng, cứng, đau ở vùng đó và đôi khi kèm theo sốt. Hầu hết các viêm hạch đều có thể chữa khỏi bằng kháng sinh đường uống, một số ít trường hợp nặng diễn tiến đến mức tụ mủ ở hạch thì cần được rạch để dẫn lưu. Tuy nhiên, trẻ cần được bác sĩ khám để xác định trường hợp viêm hạch là do siêu vi hay vi trùng.

Nếu hạch viêm do nhiễm khuẩn thì trẻ cần uống kháng sinh theo toa bác sĩ chỉ định và tiếp tục uống đủ liều ngay cả khi triệu chứng bệnh có giảm bớt hoặc hết triệu chứng. Một số trường hợp hạch viêm phản ứng thì không cần kháng sinh, chỉ cần kháng viêm, giảm đau nếu trẻ có đau, uống nhiều nước thì hạch cũng sẽ tự giới hạn và nhỏ lại.
Nên cho trẻ uống càng nhiều nước càng tốt, một số nước trái cây có nhiều vitamin như cam, chanh cũng có tác dụng tăng cường sức đề kháng cho trẻ. Trường hợp áp dụng các biện pháp điều trị thông thường mà bệnh vẫn không thuyên giảm, chị nên đưa bé đến gặp bác sĩ chuyên khoa để chẩn đoán và điều trị chính xác.

BS. Văn Bàng

Cách phòng tránh loãng xương

0

Suckhoedoisong.vn – Tôi 43 tuổi, kết quả kiểm tra xương có nguy cơ bị bệnh loãng xương, bác sĩ khuyên uống sữa có canxi nhưng tôi lại không thích uống sữa.


Xin bác sĩ cho biết có cách phòng ngừa bệnh loãng xương nào khác không?

Phương Thanh(Hải Phòng)

Loãng xương là do giảm mật độ xương và mô hoặc do mất xương. Xương có xu hướng trở nên xốp hơn theo tuổi, nhưng một số người có nguy cơ bị xốp xương sớm và điều này dẫn tới loãng xương. Cách tốt nhất để phòng ngừa loãng xương là duy trì chế độ ăn lành mạnh. Ngoài sữa chuyên dụng cho người bệnh loãng xương thì sữa chua, pho-mát, trứng, rau quả cũng là thức ăn có thể bổ sung canxi. Nếu có điều kiện, bạn nên ăn những loại hải sản như tôm cua, ghẹ, ốc. Nếu không, bạn cũng có thể mua các loại tép hoặc cá bé về chế biến thành thức ăn rồi nhai luôn cả con. Một loại thức ăn giàu canxi khác chính là cua đồng xay nhuyễn nấu canh.

Ngoài thực phẩm, để ngừa bệnh loãng xương, bạn nên tập vận động dài thời gian, phù hợp với lứa tuổi. Không nên tập quá sức mà chỉ cần đi bộ nhẹ nhàng, tránh đi tập quá sớm vì thời gian này dành để ngủ. Ngoài ra, bạn cũng nên phơi nắng 30 phút mỗi ngày vào lúc sáng khi nắng chưa gắt để phòng tránh bệnh loãng xương.
BS. Lê Hà

MOST COMMENTED

4 thiếu gia Việt nổi tiếng: Điển trai, tài giỏi, có...

Thông minh, tài giỏi và vô cùng điển trai nhưng những vị thiếu gia sở hữu khối tài sản nghìn tỷ này lại vẫn...