Blog

Thông tin hữu ích về uống rượu vang an toàn

0

Khi uống rượu vang trong niềm vui khiến bạn dễ dàng quên đi cơn say chếnh choáng đang chờ đợi bạn vào ngày hôm sau. Làm thế nào để có thể uống rượu vang vừa vui vẻ và an toàn mà không sa đà? Dưới đây là một số mẹo có thể hữu ích cho bạn.rượu sói

Rượu vang ngon

Uống nước

Rượu làm bạn dễ mất nước, đó là lý do tại sao ngày hôm sau khiến bạn bị đau đầu và khả năng uống ba chai soda, năm lít nước và một bình cà phê mà không phải đi tiểu. Cách tốt nhất để ngăn chặn điều này là uống một ly nước cho mỗi ly rượu vang bạn uống. Uống một ly nước cho mỗi ly rượu sẽ giữ cho bạn ngậm nước, giảm khả năng bạn sẽ mệt vào buổi sáng hôm sau.

Ăn trước khi uống

Uống rượu vang khi bụng đói sẽ khiến bạn dễ bị say. Bạn nên ăn một chút gì đó, ví dụ như bánh mì khoảng một giờ trước khi uống rượu sẽ giảm hấp thụ rượu và tránh cho bạn bị say quá nhanh.

Rượu vang ngon

Bỏ thuốc theo toa

Thuốc kê đơn và rượu có thể là một sự kết hợp nguy hiểm cho cơ thể của bạn. Bạn hãy lưu ý trước khi uống thuốc hãy xem có chống chỉ định uống cùng rượu hay không.

Biết chủ động khi uống rượu

Ngay cả khi bạn uống nhiều nước, uống khi no bụng và bỏ thuốc theo toa, uống một lượng lớn rượu vẫn có thể khiến bạn bị say. Khi uống rượu và nhất là lúc bạn đang vui, sẽ khiến bạn không kiểm soát được lượng rượu bạn uống vào cơ thể. Bởi vì bộ não con người có phản ứng muộn với rượu, nên bạn có thể bị rất say khi uống quá nhiều rượu. Tốt nhất là bạn nên uống chậm và chủ động được khi uống rượu. Hãy uống có chừng mực và nhắc nhở những người xung quanh uống vui vẻ nhưng để đừng bị quá chén.

Tất cả chúng ta đều muốn ăn uống thoải mái, vui vẻ và muốn thưởng thức được hết hương vị của một ly rượu vang. Bằng cách đơn giản là hãy chủ động trong việc uống rượu, bạn sẽ một cơ thể khỏe mạnh và một tinh thần sảng khoái vào buổi sáng hôm sau.

Một số thực phẩm có khả năng chống ung thư đại tràng

0

Suckhoedoisong.vn – Các nhà khoa học Đại học Colorado (Mỹ) vừa cho biết một số thực phẩm sau có khả năng chống ung thư đại tràng hiệu quả.


Cám gạo: TS. Elizabeth P.Ryan thuộc Trung tâm ung thư của Đại học Colorado cho biết, các thành phần hoạt tính sinh học trong cám gạo (polyphenolic, axít ferulic, tricin và axít phytic) có khả năng ức chế sự tăng sinh tế bào, làm thay đổi chu kỳ tiến triển, thậm chí còn có khả năng hủy diệt các tế bào ác tính.

Một số thực phẩm có khả năng chống ung thư đại tràng

Bông cải xanh: Một đánh giá được tiến hành tại Viện Nghiên cứu ung thư và Quỹ nghiên cứu ung thư thế giới thấy rằng bông cải xanh có tác dụng bảo vệ chống lại một số bệnh ung thư nhất định như dạ dày, miệng và thực quản.

Tỏi: Chứa các hợp chất lưu huỳnh có thể khiến hơi thở có mùi hôi, nhưng bù lại, hợp chất này có thể ngăn chặn các chất gây ung thư. Ngoài ra, tỏi cũng có đặc tính kháng khuẩn nên có thể làm chậm sự tiến triển của vi khuẩn H.pylori gây ung thư.
Cải bó xôi: Ăn cải bó xôi thường xuyên ít có khả năng bị ung thư thực quản. Sở dĩ có điều này là do cải bó xôi chứa nhiều lutein và zeaxanthin. Các carotenoid này giúp loại bỏ các gốc tự do ra khỏi cơ thể, giữ cho các mô không bị tổn hại. Hơn nữa, cải bó xôi cũng là một nguồn tuyệt vời của folate – một chất dinh dưỡng giúp bảo vệ phụ nữ mang thai chống lại các khuyết tật ống thần kinh ở thai nhi.

Dâu tây: Giúp bảo vệ chống lại bệnh tim và ung thư bởi dâu tây có chứa axít ellagic – một chất được chứng minh có tác dụng chống ung thư hiệu quả.

Minh Quân

((Theo Reuter, 1/2017))

10 nguyên tắc giúp ổn định đường huyết, bệnh nhân đái tháo đường nhất định phải nhớ

0

Suckhoedoisong.vn – BS. Nguyễn Trọng Hưng – Phó Trưởng khoa Dinh dưỡng lâm sàng và tiết chế, Viện Dinh dưỡng Quốc gia cho biết, dinh dưỡng hợp lý là một trong ba phương pháp cơ bản để điều trị bệnh đái tháo đường, bên cạnh việc thay đổi lối sống và sử dụng thuốc.


“Dinh dưỡng hợp lý là vấn đề then chốt giúp duy trì cân nặng, kiểm soát đường huyết, tránh các biến chứng: tăng hay hạ đường huyết cho người bệnh”- BS. BS. Nguyễn Trọng Hưng nhấn mạnh.

Chính vì vậy, nhằm ổn định đường huyết thì người bệnh đái tháo đường nên tuân thủ các nguyên tắc sau:

  1. Nên ăn ổn định số lượng glucid (chất bột đường) trong các bữa ăn phù hợp với mình, biết thay thế thức ăn giàu tinh bột.
  2. Lựa chọn các thực phẩm có chỉ số đường huyết thấp (<55%), cần phối hợp các thực phẩm có nhiều chất xơ. Các thực phẩm có nhiều chất xơ như gạo lứt, bánh mỳ đen, rau, củ,… mỗi ngày ăn từ 300g – 500g rau.
    BS. Nguyễn Trọng Hưng tư vấn chế độ dinh dưỡng phòng bệnh đái tháo đường cho người dân tại Ngày hội thế giới phòng chống bệnh đái tháo đường năm 2018.
  3. Tránh những bữa ăn lớn, có thể chia thành nhiều bữa nhỏ nếu đường huyết kiểm soát không tốt, nên ăn ba bữa chính và có thêm ít nhất một bữa phụ.
  4. Giữ đúng giờ ăn theo lịch. Không bỏ bữa ăn ngay cả khi ốm hoặc cảm thấy mệt mỏi và không muốn ăn, nên thay thế bằng thức ăn phù hợp.
  5. Tránh ăn và/hoặc uống các thực phẩm nhiều đường, đường hấp thu nhanh như đường kính, đường mật, mật ong, các loại mứt, quả chín khô, kẹo, socola, nước ngọt đóng chai.
  6. Ăn hạn chế các thực phẩm nguồn gốc động vật có nhiều mỡ, cholesterol (thịt mỡ, mỡ, bơ, phủ tạng động vật…). Nên ăn các thực phẩm có chứa chất béo tốt cho sức khỏe như đậu phụ, vừng lạc, cá…

Ăn dầu thực vật thay cho mỡ động vật và ở dạng trộn nộm, salad. Hạn chế các món xào nhiều dầu hoặc mỡ, các món rán, nướng…

Dinh dưỡng hợp lý là một trong ba phương pháp cơ bản để điều trị bệnh đái tháo đường.

  1. Cố gắng ăn giảm lượng muối, gia vị chứa muối đến mức có thể chấp nhận, đặc biệt khi bị tăng huyết áp, suy thận.
  2. Cố gắng hạn chế sử dụng các thức uống có cồn như rượu, bia.
  3. Nên duy trì cân nặng “nên có”.
  4. Nên đi khám sức khỏe định kỳ hoặc theo hẹn của bác sĩ.

Báo động 80 ca tử vong mỗi ngày vì bệnh đái tháo đường

Trong các bệnh không lây nhiễm, bệnh đái tháo đường chiếm tỉ lệ tử vong đứng thứ 3. Theo số liệu Liên đoàn đái tháo đường thế giới (IDF) đã công bố năm 2017, ước tính cứ 11 người trưởng thành (20-79 tuổi) lại có 1 người bị đái tháo đường tương đương 425 triệu người. Ước tính đến năm 2045 sẽ có gần 700 triệu người mắc bệnh tiểu đường.

Tại Việt Nam, báo cáo của Bộ Y tế cho thấy, cứ 5 người trưởng thành thì có 1 người mắc tăng huyết áp và trong 25 người thì có 1 người bị bệnh đái tháo đường. Trong nhóm tuổi từ 18 đến 69, tỷ lệ hiện mắc tăng huyết áp là 18,9%. Bệnh không lây nhiễm đang trở thành gánh nặng lớn về kinh tế, dự báo trong 20 năm tới, toàn thế giới sẽ mất đi 47.000 tỷ USD do các bệnh không lây nhiễm gây ra.

Riêng trong năm 2017, có 29.000 người chết do các nguyên nhân có liên quan đến đái tháo đường, tương đương với 80 ca tử vong/ngày.
Dương Hải

10 nguyên tắc giúp ổn định đường huyết, bệnh nhân đái tháo đường nhất định phải nhớ

0

Suckhoedoisong.vn – Triệu chứng kinh điển của tắc động mạch phổi là đau ngực kiểu màng phổi đột ngột (đau tăng khí ho hắt hơi, ăn uống, hít sâu, vặn mình, không giảm khi nghỉ ngơi), khó thở.


Tắc động mạch phổi là gì?
Tắc động mạch phổi là hiện tượng tắc ít nhất một động mạch phổi hoặc nhánh động mạch phổi, thường do huyết khối từ tĩnh mạch sâu di chuyển lên. Đây là một bệnh khá thường gặp tuy nhiên khó chẩn đoán vì dễ nhầm với các bệnh khác. Khả năng chần đoán và điều trị phụ thuộc vào trang bị của từng cơ sở y tế, dù có trang thiết bị đầy đủ, song nếu không nghĩ đến thì không chẩn đoán được tắc động mạch phổi. Bệnh nhân không được chẩn đoán và điều trị phù hợp có tỉ lệ tử vong lên đến 30%.

Tắc động mạch phổi thường phát sinh từ huyết khối có nguồn gốc trong hệ thống tĩnh mạch sâu chi dưới. Tuy nhiên, nó hiếm khi cũng có nguồn gốc tĩnh mạch chậu hông, tĩnh mạch thận, tĩnh mạch chi trên, hoặc các buồng tim bên phải. Sau khi đi vào phổi, huyết khối lượng lớn có thể dừng tại các nhánh của động mạch phổi chính hoặc nhánh thùy và gây ra sự biến đổi bệnh lý về huyết động học. Huyết khối thuyên tắc phổi không phải là một căn bệnh trong và của chính nó. Thay vào đó, nó là một biến chứng của huyết khối tĩnh mạch nằm bên dưới. Trong điều kiện bình thường, huyết khối nhỏ được hình thành và ly giải liên tục trong hệ thống tuần hoàn tĩnh mạch.

Ngoài ra một số chất khác gây tắc động mạch phổi như mỡ tủy xương sau gãy xương, một phần của khối u,bong bóng khí;tuy nhiên chủ yếu tắc động mạch phổi là do huyết khối tĩnh mạch sâu cho nên một số bác sĩ gắn liền hai vấn đề tắc động mạch phổi và huyết khối tĩnh mạch sâu với nhau.

Các yếu tố nguy cơ của tắc động mạch phổi
Các yếu tố nguy cơ của tắc động mạch phổi bao gồm:
Tuổi cao, bất động lâu ngày, rối loạn đông máu di truyền, phẫu thuật, các vấn đề y tế như bệnh tim mạch, có thai, ung thư; đặc biệt chú ý những bệnh nhân có tiền sử tắc mạch phổi hoặc có bằng chứng viêm tắc tĩnh mạch chi dưới trong quá khứ hay hiện tại (sưng,nóng,đỏ,đau,mạch mu chân bắt rõ).

Hút thuốc lá,béo phì,sử dụng estrogen cũng là yếu tố nguy cơ của tắc động mạch phổi.

Triệu chứng tắc động mạch phổi
Triệu chứng kinh điển của tắc động mạch phổi là đau ngực kiểu màng phổi đột ngột (đau tăng khí ho hắt hơi, ăn uống, hít sâu, vặn mình, không giảm khi nghỉ ngơi), khó thở. Tuy nhiên ở một số bệnh nhân triệu chứng lại không rõ ràng. Thay vào đó, có thể xuất hiện những thay đổi huyết động nặng nề, tụt huyết áp, sốc, hôn mê. Ho ra máu cũng là một triệu chứng của tắc động mạch phổi.

Các bác sĩ chẩn đoán tắc động mạch phổi dựa trên yếu tố nguy cơ, lâm sàng, xét nghiệm. MSCT là tiêu chuẩn vàng của tắc động mạch phổi nhưng chỉ thực hiện được ở các bệnh viện có cơ sở vật chất kỹ thuật tốt và giá thành cao

Kết quả hình ảnh cho embolism pulmonary

Sau khi chẩn đoán xác định, tùy vào tình trạng bệnh bác sĩ có thể dùng thuốc chống đông, tiêu sợi huyết (làm tan huyết khối), hoặc phẫu thuật.

Dự phòng và phát hiện tắc động mạch phổi
Để dự phòng và phát hiện tắc động mạch phổi tránh hậu quả đáng tiếc xảy ra, chúng ta nên thực hiện những lời khuyên sau:

  • Có ý thức, nhận thức về căn bệnh nguy hiểm chết người này
  • Với các bệnh nhân có yếu tố nguy cơ,khi có các triệu chứng về hô hấp, nên đến bệnh viện ngay tránh chậm trễ.
  • Thực hiện lối sống lành mạnh, không sử dụng chất kích thích thích và hút thuốc lá, ăn nhiều rau quá, uống nhiều nước, hạn chế dầu mỡ phủ tạng động vật, chất béo.
  • Tập thể dục thường xuyên nhất là đi bộ, không ngồi hay đứng lâu mà không vận động, ví dụ đi du lịch đường dài khi ngồi ô tô khoảng 30-45 phút ta nên đứng dậy vặn mình khởi động chân tay chút rồi mới tiếp tục ngồi xuống. Đã có trường hợp bệnh nhân ngồi ô tô đi lên tuyến trung ương khám bệnh và lên đến nơi thì xảy ra tắc động mạch phổi dù không có yếu tổ nguy cơ.
  • Với bệnh nhân có yếu tố nguy cơ cần dùng thuốc chống đông dự phòng bằng heparin trọng lượng phân tử thấp hoặc kháng vitamin K. Hậu phẫu nên cho bệnh nhân vận động sớm.
  • Phát hiện và điều trị tốt các bệnh lý tim mạch,bệnh lý viêm tắc hay suy van tĩnh mạch chi dưới.

BS. Nguyễn Hồng Quân

Phòng tránh thừa cân, béo phì gây rối loạn giấc ngủ

0

Suckhoedoisong.vn – Béo phì là thuật ngữ y khoa nhằm chỉ tình trạng thừa cân và có nhiều mỡ trong cơ thể. Theo thời gian, tình trạng này là yếu tố nguy cơ đối với nhiều vấn đề về sức khỏe trong đó có giấc ngủ.


Béo phì ảnh hưởng nhiều nhất là các bệnh tim mạch chuyển hóa, ngoài ra thừa cân béo phì còn ảnh hưởng đến giấc ngủ và tăng nguy cơ của các rối loạn về giấc ngủ, như ngáy ngủ và ngưng thở khi ngủ cho đến hội chứng chân không nghỉ khi ngủ.

Một số rối loạn giấc ngủ do thừa cân hoặc béo phì gây ra
Ngáy ngủ: Một trong rối loạn thường gặp nhất do thừa cân béo phì là chứng ngáy ngủ. Nguyên nhân của ngáy ngủ có thể do có sự cản trở trên đường thở như áp lực đè lên đường thở do béo phì, amiđan to ra hoặc các tổ chức bạch huyết tăng sinh, lệch vách ngăn mũi, hoặc lưỡi lớn…

Chứng ngưng thở lúc ngủ: Khi đường thở tắc nghẽn sẽ dẫn đến ngưng thở hay gặp ở những người béo phì. Có những triệu chứng phiền toái kèm theo chứng ngưng thở khi ngủ ban đêm như buồn ngủ ban ngày quá mức, rối loạn các vấn đề về tập trung, trí nhớ và tâm trạng. Ngoài ra còn có những hiệu ứng nghiêm trọng hơn như làm tăng nguy cơ suy tim, tăng huyết áp và tiểu đường. Ngưng thở khi ngủ tương quan thuận với nguy cơ đột quỵ và đột tử. Nếu là trẻ em thì sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng và phát triển.

Giảm thông khí: Khó thở vào ban đêm có thể dẫn đến tình trạng cơ thể giữ lại nhiều carbon dioxide hơn bình thường. Carbon dioxide thường được đẩy ra khỏi cơ thể khi chúng ta hít thở sâu đầy đủ. Ở một số người thừa cân béo phì, điều này bị cản trở trong giấc ngủ đến mức cơ thể không có đủ lượng ôxy sau khi tỉnh dậy. Tình trạng này được gọi là hội chứng giảm thông khí do béo phì. Giảm thông khí làm tăng nguy cơ biến chứng tim mạch cũng như tăng nguy cơ tử vong.

Hội chứng chân không nghỉ: Hội chứng chân không nghỉ đặc trưng bởi sự khó chịu ở chân vào buổi tối đi kèm với sự thôi thúc chuyển động chân để làm giảm triệu chứng. Có nhiều nguyên nhân tiềm ẩn của hội chứng chân không nghỉ, trong đó có liên quan đến thừa cân béo phì. Một số nghiên cứu cho thấy dopamine, một chất hóa học trong não có thể tham gia cơ chế bệnh sinh của hội chứng chân không nghỉ.

Ăn nhiều rau xanh, hoa quả tránh đồ ngọt, thực phẩm tinh bột, chế biến sẵn để phòng thừa cân, béo phì.

Ăn nhiều rau xanh, hoa quả tránh đồ ngọt, thực phẩm tinh bột, chế biến sẵn để phòng thừa cân, béo phì.

Ngủ kém có thể gây ra tăng cân, béo phì
Ngược lại, một số rối loạn về giấc ngủ có thể góp phần vào chứng béo phì. Một rối loạn hay gặp là rối loạn ăn uống liên quan đến giấc ngủ. Trong rối loạn này, người bị ảnh hưởng trở nên ăn nhiều lần hơn và ăn với số lượng lớn hơn. Các loại thực phẩm tiêu thụ có xu hướng nhiều calo và đường. Nghiên cứu cho thấy giấc ngủ không đầy đủ có thể dẫn đến những thay đổi nội tiết tố làm gián đoạn sự trao đổi chất. Hơn nữa, giấc ngủ bị gián đoạn có thể dẫn đến kháng insulin và tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường. Do đó, ngủ không đủ giấc hoặc ngủ có chất lượng kém có thể làm tăng cân nặng và tăng quá trình tích mỡ. Theo nghiên cứu và thực tiễn, giảm 10% trọng lượng cơ thể của bạn có thể làm giảm một số rối loạn giấc ngủ vừa nêu.

Các cách giảm thừa cân, béo phì
Chế độ ăn kiêng: Ăn nhiều trái cây và rau xanh. Bạn cũng không nên loại carbohydrate khỏi chế độ ăn uống hàng ngày vì đó là nguồn năng lượng cho cơ thể. Tuy nhiên, tránh loại chế biến sẵn và tinh bột vì dễ tăng cân. Nên ăn gạo lứt, bánh mì đen và các loại ngũ cốc nguyên hạt. Tiêu thụ ít sữa và các sản phẩm sữa nhiều chất béo. Cắt giảm đường, vì đường là nhân tố đóng góp chính cho BMI cao hơn. Không ăn quá 12 muỗng cà phê đường/ngày. Tránh thức uống có vị ngọt và luôn luôn kiểm tra nhãn thực phẩm có hàm lượng đường cao. Tránh các thực phẩm chế biến vì chúng không chỉ có lượng carb (carbohydrate) cao, mà còn chứa lượng đường và muối không tốt. Ăn nhiều thức ăn hơn nhu cầu cơ thể của bạn có thể dẫn đến tăng cân. Để khắc phục điều này, giảm lượng calo hàng ngày của bạn. Ăn một bữa sáng lành mạnh: Có một bữa sáng lành mạnh giúp trao đổi chất tốt và sẽ cung cấp cho bạn năng lượng cần cho cả ngày. Thêm vào đó, một bữa sáng lành mạnh cũng sẽ ngăn chặn cơn thèm ăn dẫn đến ăn uống quá nhiều không cần thiết. Không nên ăn sau 8 giờ tối vì sự trao đổi chất trong cơ thể của bạn chậm lại vào buổi tối.

Tập luyện: Sống một lối sống tích cực và lành mạnh là cách hiệu quả, an toàn để giảm BMI và đạt được mục tiêu giảm cân của bạn. Hãy dành ít nhất 60 phút tập thể dục mỗi ngày, tối thiểu tập 5 ngày một tuần. 30 phút tập thể dục aerobic là đã tốt cho sức khỏe, nhưng nếu bạn muốn giảm BMI và giảm cân, bạn nên tập thể dục ít nhất 60 phút. Bạn có thể chọn các hoạt động thể dục thể thao mà bạn thích, chẳng hạn như quần vợt, đi xe đạp hoặc aerobic. Nếu bạn muốn tăng tốc độ trao đổi chất của bạn và đốt cháy nhiều calo hơn, bạn nên thực hiện tập luyện có sức đề kháng ít nhất 2 lần một tuần. Thực hiện các bài tập nhắm mục tiêu vào các nhóm cơ lớn của bạn bao gồm ngực, chân, lưng, bụng, cánh tay. Nếu bạn không thể có thời gian để đi đến phòng tập thể dục, hãy tìm cách để hoạt động thay thế. Đi cầu thang thay vì sử dụng thang máy; đậu ôtô xa nơi làm việc và đi bộ phần đường còn lại. Nếu bạn ngồi tại bàn làm việc cả ngày, hãy nghỉ ít nhất 5 phút sau 30 phút ngồi yên để vận động tay chân và đi bộ quanh phòng.

Ngủ ít nhất 6 giờ nhưng không quá 8 giờ mỗi đêm. Tránh stress vì điều này có thể dẫn đến ăn quá nhiều và chuyển hóa chậm hơn. Tập luyện yoga và một số kỹ thuật thiền. Tìm kiếm tư vấn để giải quyết vấn đề cảm xúc hoặc hành vi dẫn đến ăn quá nhiều và các vấn đề ăn uống khác. Cười và có thái độ sống tích cực mỗi ngày.

Chỉ số khối cơ thể (BMI) xác định thừa cân hoặc béo phì

Đối với người trưởng thành, để tính BMI, chia trọng lượng của bạn (kg) cho bình phương của chiều cao (m). Ví dụ, nếu bạn nặng 70kg và cao 1,75m, chỉ số BMI của bạn là 70/ (1,75 x 1,75), tức là 22,9.

Đối với người châu Á, chỉ số BMI được đánh giá cụ thể như sau: Lý tưởng (bình thường) BMI là 18,5- 22,9; Chỉ số BMI từ 23-24,9 là thừa cân; Chỉ số BMI từ 25 trở lên là béo phì độ 1; Chỉ số BMI từ 30 trở lên là béo phì độ 2.

TS.BS. Lê Thanh Hải

Chọn bác sĩ cho bệnh lý tuyến giáp

0

Suckhoedoisong.vn – Chọn bác sĩ nào phù hợp để khám bệnh lý tuyến giáp có thể gây ra một số khó khăn vì bác sĩ ở các chuyên ngành khác nhau – từ bác sĩ gia đình đến chuyên gia về nội tiết – đều có thể điều trị các vấn đề về tuyến giáp.


Lựa chọn bác sĩ sẽ dựa vào các yếu tố sau như: bạn nghi ngờ mắc các vấn đề liên quan đến tuyến giáp, bệnh mới được chẩn đoán, hoặc đã biết trước tình trạng bệnh tuyến giáp một thời gian…

Những nhóm bác sĩ điều trị về tuyến giáp
Với 1 vài tình trạng của tuyến giáp, bác sĩ gia đình có thể là lựa chọn tốt nhất. Trái lại, với 1 số loại khác, bạn cần phải khám bác sĩ nội tiết hoặc bác sĩ ngoại khoa chuyên về điều trị ung thư tuyến giáp.

Bác sĩ tiếp nhận ban đầu

Tiếp nhận ban đầu bao gồm các chuyên ngành như: y học gia đình và nội tổng quát. Những bác sĩ tuy ở các chuyên ngành khác nhau, nhưng vẫn có thể dễ dàng điều trị được các vấn đề suy giảm tự miễn (viêm giáp Hashimoto).
Trong số những bác sĩ tiếp cận ban đầu, 1 số người sẽ quan tâm hơn về vấn đề mất cân bằng hóc môn và có thế mạnh về điều trị bệnh lý tuyến giáp.

Bác sĩ sản phụ khoa

Là những bác sĩ điều trị cho nữ giới và cũng thường là người đầu tiên phát hiện bệnh lý tuyến giáp. Có rất nhiều tình trạng của tuyến giáp là sự liên quan chặt chẽ giữa bệnh lý tuyến giáp và nội tiết tố của phụ nữ.

Chọn bác sĩ cho bệnh lý tuyến giáp

Bác sĩ nội tiết

Là những bác sĩ quan tâm về hệ thống nội tiết (như tuyến giáp).

Ngoài vấn đề về tuyến giáp, các bác sĩ nội tiết còn quan tâm đến 1 số vấn đề khác như béo phì, đái tháo đường, vô sinh…

Bác sĩ ung bướu

Là những bác sĩ chuyên gia về điều trị ung thư bằng thuốc, dành cho những bệnh nhân bị ung thư tuyến giáp nhưng chưa có chỉ định phẫu thuật.

Bác sĩ ngoại khoa

Nếu tuyến giáp cần được cắt bỏ, chúng ta sẽ phải đến gặp bác sĩ ngoại khoa. Có nhiều nhóm bác sĩ liên quan đến phẫu thuật tuyến giáp, bao gồm bác sĩ ngoại tổng quát, bác sĩ tai mũi họng, bác sĩ u ung bướu, bác sĩ phẫu thuật về nội tiết….

Khi nào bạn cần đến khám bác sĩ nội tiết
Khi bạn có chỉ định phẫu thuật cắt bỏ tuyến giáp, bạn sẽ cần đến gặp bác sĩ ngoại khoa hoặc bác sĩ chuyên khoa ung bướu. Ngoài các trường hợp trên, bác sĩ nội tiết sẽ là lựa chọn tốt hơn với bạn hơn là bác sĩ tiếp cận ban đầu hoặc bác sĩ sản phụ khoa.

Với 1 số tình trạng như nhược giáp tự miễn, bệnh nhân có thể đến khám các chuyên gia khác nhau mà không cần nhất thiết phải là bác sĩ nội tiết.

Tuy nhiên, trong 1 vài tình huống, tình trạng bệnh đã được chẩn đoán, bạn nên đến khám bác sĩ nội tiết:

  • Khi ngờ ung thư giáp.
  • Bệnh Grave.
  • Bệnh mắt do tuyến giáp.
  • Nhược giáp.
  • Bướu cổ hoặc nốt ở tuyến giáp.
  • Trẻ sơ sinh với tình trạng nhược giáp bẩm sinh và trẻ nhỏ đã được chẩn đoán bệnh lý tuyến giáp.
  • Suy giáp thứ phát (vấn đề tuyến yên gây suy giáp).
  • Cơn bão giáp.
  • Các dạng bất thường của bệnh lý tuyến giáp: cường giáp sau hóa trị, nhược giáp do dùng thuốc.
  • Bệnh lý tuyến giáp dưới lâm sàng.
  • Triệu chứng nhược giáp kéo dài dai dẳng mặc dù xét nghiệm bình thường.
  • TSH dao động bất thường.
  • Bệnh lý tim mạch cùng với bệnh lý tuyến giáp.
  • Kháng thể kháng TPO (+), nhưng TSH bình thường.

Đánh giá ban đầu của bác sĩ nội tiết rất có giá trị cho những bệnh nhân gặp tình trạng bệnh giáp Hashimoto đang diễn tiến và cho bệnh nhân đang có thai hoặc đang cố gắng có thai với tình trạng bệnh lý tuyến giáp (đặc biệt với bệnh nhân mắc bệnh vô sinh).

Chọn bác sĩ cho bệnh lý tuyến giápXếp loại bác sĩ trên các trang mạng có thể có hữu ích, tuy nhiên cũng có thể gây sai lệch

Chọn lựa bác sĩ

Một khi bạn đã biết nên đến khám bác sĩ nào, có vài điều bạn cần cân nhắc trước khi đặt cuộc hẹn. Điều này quan trọng vì 1 vài lý do. Không chỉ bởi vì bệnh lý tuyến giáp cần được điều trị dài hạn, mà còn bởi vì bệnh không phải dễ dàng điều trị – chọn lựa phương pháp hiệu quả sẽ đưa đến kết quả khác biệt.

Cân nhắc nhu cầu của bạn
Mỗi người đều có những nhu cầu khám khác nhau. Một số bệnh nhân thích khám gần nhà, 1 số sẵn sàng di chuyển 1 quãng đường xa để gặp chuyên gia về điều trị tuyến giáp. 1 số người thích khám nhanh chóng, còn 1 số sẵn sàng đợi hàng giờ để được khám.

Làm thế nào để tìm 1 bác sĩ điều trị tuyến giáp
Có rất nhiều cách để bạn tìm 1 bác sĩ, giới thiệu của người quen cũng là 1 cách hay. Nếu bạn có nguời thân hay bạn bè mắc các bệnh lý tuyến giáp, bạn có thể hỏi họ về kinh nghiệm. Cộng đồng hoặc nhóm trên mạng những người mắc bệnh tuyến giáp có thể đưa ra cho bạn 1 vài lời đề nghị về bác sĩ điều trị cho bạn.

Nếu bạn mắc bệnh ung thư tuyến giáp, đặc biệt là những dạng hiếm như ung thư giáp không biệt hoá, bạn cần đến những trung tâm lớn để gặp các chuyên gia.

Xếp hạng bác sĩ
Xếp loại bác sĩ trên các trang mạng có thể có hữu ích, tuy nhiên cũng có thể gây sai lệch.

Ví dụ, họ thường đánh giá mức độ thân thiện của tiếp tân hơn là năng lực chuyên môn của bác sĩ. Đôi khi họ chấm điểm thấp chỉ bởi vì sự giận dữ của họ về bệnh lý của mình.

Nếu bạn nhìn vào đánh giá, nhớ phải xem thêm phần bình luận thay vì chỉ lướt qua điểm số.

Đánh giá bác sĩ hiện tại của bạn
Một khi bạn khám bác sĩ về tình trạng bệnh của mình, đôi khi cũng cần nhìn nhận lại và đánh giá xem bạn có muốn tiếp tục đến khám hay không

Dưới là 1 bảng kiểm tự vấn để bạn đánh giá 1 cách khách quan hơn:

  • Bác sĩ của bạn có quan tâm và chú ý đến của vấn đề của bạn không?
  • Bác sĩ của bạn có nhận tin nhắn hoặc trả lời điện thoại đúng giờ?
  • Bác sĩ của bạn có thuộc mẫu người cởi mở, sẵn sàng lắng nghe và tiếp thu ý kiến của bạn về điều trị?
  • Bạn sĩ có xem xét lại cẩn thận các thông tin bạn cung cấp?
  • Bác sĩ của bạn có quan tâm đến việc bạn cảm thấy thế nào, thay vì chỉ quan tâm đến kết quả xét nghiệm?
  • Bác sĩ của bạn có lắng nghe mà không cắt lời bạn không? Họ có cho bạn đủ thời gian để trao đổi?
  • Bác sĩ của bạn có nhận ra bạn không?
  • Bác sĩ của bạn có đánh giá các vấn đề tiền sử bệnh lý của bạn không?
  • Bạn sĩ của bạn có tôn trọng bạn bao gồm cả việc chọn lựa điều trị hay họ độc đoán? Họ có bàn bạc với bạn về các lựa chọn trong điều trị?
  • Bác sĩ của bạn có sẵn sàng thừa nhận sự không chắc chắn khi họ không thể đưa ra câu trả lời có cơ sở.
  • Bạn có cảm nhận rằng bác sĩ của bạn giống như 1 người bạn đồng hành trong cuộc đời của mình không?

Ý kiến khác
Bạn hoàn toàn có thể có lựa chọn khác ngay khi phát hiện chẩn đoán bệnh lý hoặc thậm chí sau khi đã sống chung với bệnh tuyến giáp cả thập kỷ.

Một vài ví dụ về việc bạn nên có sự lựa chọn khác bao gồm:

  • Bác sĩ của bạn không đề nghị điều trị cho tình trạng nhược giáp dưới lâm sàng.
  • Iod phóng xạ đưa đề nghị cho điều trị bệnh Grave. Nước Mỹ là quốc gia đầu tiên chọn lựa phương pháp này là điều trị đầu tay. Bạn cần biết đến những điều trị thay thế trước khi có sự lựa chọn.
  • Bạn có những triệu chứng nghi do tuyến giáp, nhưng bác sĩ nói các xét nghiệm bình thường.
  • Bạn đã chọc sinh thiết tuyến giáp nhưng kết quả chưa rõ ràng: khi đó phẫu thuật là chưa hẳn đã cần thiết, tuy nhiên có 1 số xét nghiệm cần làm thêm không hẳn các bác sĩ đều nắm rõ.
  • Iod phóng xạ được đề nghị cho ung thư giáp, tuy nhiên có 1 số nghiên cứu mới chỉ ra rằng điều này không phải luôn cần thiết và thậm chí có thể gia tăng tỷ lệ ung thư.

Thay đổi bác sĩ

Trong quá trình điều trị bệnh lý, bạn cần một bác sĩ có thể tin tưởng và biết lắng nghe. Thậm chí đôi lúc các câu hỏi trong bảng kiểm tự vấn đều là “có” bạn vẫn có thể cảm giác bác sĩ hiện tại chưa phù hợp với nhu cầu của bản thân. Những người khác nhau có những yêu cầu riêng về đặc điểm của từng bác sĩ cho họ, vậy nên không có vấn đề gì khi bạn cố gắng tìm bác sĩ phù hợp với bản thân.

Hãy nhớ rằng bạn là khách hàng và bạn có quyền chọn loại dịch vụ nào mà bạn muốn. Nếu bạn không thấy thoải mái với bác sĩ đang điều trị, bạn hoàn toàn có quyền chọn những người khác hoặc ngược lại.

Những bệnh lý mạn tính như tuyến giáp, mối quan hệ giữa bạn và bác sĩ là rất quan trọng để tối ưu hóa phương pháp điều trị. Khi được khám, bạn hãy liên tục đặt câu hỏi về tình trạng của mình và lắng nghe lời khuyên từ bác sĩ.

Mối quan hệ thân thiết với bác sĩ điều trị cần có thời gian để hình thành. Sẽ không bao giờ có bác sĩ hoàn hảo, nhưng bằng cách giành thời gian để tìm ra điều gì là quan trọng với bạn trong mối quan hệ bệnh nhân – bác sĩ, bạn sẽ tìm ra bác sĩ phù hợp để điều trị cho mình.

Chú thích ảnh:

Xếp loại bác sĩ trên các trang mạng có thể có hữu ích, tuy nhiên cũng có thể gây sai lệch

BS. NGUYỄN BÁ HUY

Vui xuân coi chừng đau lưng, nhức khớp

0

Suckhoedoisong.vn – Cứ mỗi độ xuân về, người người lại hối hả lo kết thúc công việc cuối năm, nhà nhà lại chăm lo sửa soạn đón Tết.


Trong niềm hân hoan, háo hức được sum họp cùng gia đình, nhiều người lại mắc đau lưng nhức khớp làm cho niềm vui không còn được trọn vẹn.

Các bệnh xương khớp tái phát
Khi thời tiết lạnh, sức đề kháng của cơ thể bị giảm sút nhanh chóng khiến cho các yếu tố gây bệnh như: vi khuẩn, virut dễ dàng tấn công. Ngoài ra, khi nhiệt độ xuống thấp, các gân cơ thường bị co rút gây nên các chứng vẹo cổ cấp do lạnh, vận động khớp khó khăn khiến bệnh nhân dễ ngã. Thậm chí có thể gây nên gãy xương. Một số bệnh nhân bị gút cũng thường hay bị tái phát các đợt viêm khớp cấp trong thời tiết lạnh do axit uric trong máu bị kết tủa lắng đọng vào khớp gây viêm.

Mặt khác, khi Tết vì rượu bia, sơn hào hải vị là “sát thủ hàng đầu” đối với bệnh gút, mà trong dịp Tết đi đâu cũng rất sẵn những thứ này.

Chứng đau lưng, nhức khớp còn hay gặp ở phụ nữ, nhất trong dịp Tết đến xuân về do phải tất bật lo toan cho công việc chuẩn bị đón Tết. Có người dọn nhà, ngồi lì hàng mấy tiếng đồng hồ nấu nướng, rửa dọn, gói bánh, đến khi xong việc thì mới thấy đau lưng không đi được.
Nguyên nhân tiếp theo là do mọi người sắp xếp cây cảnh, trang trí, dọn dẹp mang vác không đúng tư thế khiến cho lưng vai đau ê ẩm. Trên thực tế đã có nhiều người trong Tết khom lưng xuống khiêng chậu cảnh tối đó lưng đau ê ẩm, mấy ngày hôm sau cũng chưa bớt, phải đi bệnh viện cấp cứu.

Một số khớp thường bị đau khi đến tuổi trung niên.

Một số khớp thường bị đau khi đến tuổi trung niên.

Vì sao lại dễ bị đau nhức xương khớp?
Trong cơ thể con người, bộ xương giống như một cái khung để nâng đỡ toàn bộ cơ thể. Khi chúng ta còn trẻ tuổi thì khung xương vô cùng vững chắc và khỏe mạnh. Tuy nhiên, tuổi càng cao thì xương sẽ càng lão hóa. Đó chính là một trong những nguyên nhân khiến chúng ta mắc bệnh xương khớp khi về già.

Thoái hóa khớp, viêm khớp, đau nhức xương khớp là những bệnh mạn tính, thường phát sinh sau tuổi trung niên. Từ tuổi trung niên trở đi, ít nhiều chúng ta sẽ có những cảm nhận các khớp dần ê ẩm, đặc biệt là các khớp quan trọng như cổ, vai gáy, lưng, đầu gối, các khớp cổ chân và cổ tay.

Một điều đáng lo ngại là các triệu chứng khó chịu này không có xu hướng đỡ hay khỏi mà sẽ ngày càng nặng hơn theo tuổi tác.

Tình trạng đau nhức xương khớp khi thay đổi thời tiết hoặc sau khi làm việc quá sức, sai tư thế là điều mà rất nhiều người lớn tuổi gặp phải. Một số nghiên cứu cho thấy, có tới 2/3 số người mắc bệnh về cơ xương khớp phải chịu đựng những cơn đau khớp dai dẳng, khó chịu mỗi khi trái gió trở trời, nhất là lúc nhiệt độ thay đổi đột ngột.

Lý do đơn giản là vì khi vào tuổi trung niên trở lên, cột sống và các khớp xương đã bị thoái hóa, hệ thống các gân cơ dây chằng quanh cột sống và các khớp đã bị suy yếu, làm cho người ta không còn có thể ngồi lâu, khom cúi lưng, ngồi xổm hay làm việc liên tục trong thời gian dài được nữa.

Bí quyết giảm đau nhức xương
Để không bị đau nhức xương khớp, dù muốn làm việc gì, cũng cần nhớ phải luôn giữ cho lưng thẳng, không nên khom cúi lưng. Muốn khiêng một vật nặng phải biết tự lượng sức mình, có thể cần phải huy động nhiều người. Khi khiêng, cần chùng gối xuống để phân phối sức nặng lên hai đùi, giữ cho lưng luôn thẳng, như vậy sẽ làm giảm được lực tải lên cột sống thắt lưng, nhờ đó tránh được các bệnh lý giãn dây chằng, thoát vị đĩa đệm cột sống…

Khi làm các công việc cần phải ngồi, nên ngồi trên ghế cao, làm việc trên bàn hoặc đứng làm thì sẽ tốt hơn ngồi xổm hay ngồi ghế đòn thấp, vì khi khớp gối gấp quá mức sẽ làm tăng lực tải lên khớp, đồng thời làm cho hệ thống các dây chằng của khớp gối căng quá mức, từ đó sẽ gây đau nhức khớp.

Đối với người làm văn phòng, công việc tĩnh tại, ít vận động cũng có thể gặp các chứng bệnh đau lưng, nhức khớp tương tự như ở các bà nội trợ.

Do đó, dù là làm công việc gì, cứ sau khoảng 30 phút thì nên thay đổi tư thế, vận động cơ thể cho giãn gân, giãn cốt rồi mới làm tiếp. Như vậy sẽ giúp cho hệ thống các gân cơ, dây chằng có thời gian để nghỉ ngơi, hồi phục trước khi phải tiếp tục làm việc trở lại, tránh gây ra quá tải cho cột sống và các khớp xương, tránh được đau lưng nhức khớp, đảm bảo cho ta có một cái Tết vui khỏe trọn vẹn.

ThS.BS. Nguyễn Đức Thành

Lác mắt, khi nào cần mổ?

0

Suckhoedoisong.vn – Lác mắt, hay còn gọi là lé mắt, là bệnh mà mắt không di chuyển theo hướng giống nhau khi ta nhìn vào một vật. Mắt lác xảy ra khi một hoặc cả hai mắt nhìn theo hướng lệch vào trong hoặc lệch ra ngoài. Qua thời gian, mắt bị lác sẽ yếu hơn và dần bị mất thị lực do bộ não chỉ dùng các tín hiệu đến từ mắt khỏe hơn. Tình trạng lé mắt nếu không được điều trị sớm sẽ ảnh hưởng đến thị lực.


Có 2 loại lác mắt: Lác cơ năng (lác đồng hành): Thường gặp ở trẻ em, đặc trưng bởi tình trạng mắt lác luôn di chuyển cùng hướng với mắt lành; Lác liệt (lác bất đồng hành): thường gặp ở người lớn, đặc trưng bởi tình trạng cơ vận nhãn bị liệt gây hạn chế vận động của nhãn cầu.

Nguyên nhân của bệnh
Bệnh lác xuất hiện khi 6 cơ xung quanh mắt không phối hợp hoạt động nhịp nhàng với nhau. Điều này gây ra bởi các nguyên nhân: tiền sử gia đình; Liệt cơ vận nhãn bẩm sinh hoặc mắc phải; Vấn đề ở não: Bị bại não, hội chứng Down, não úng thủy, u não; Bất thường khi sinh: sinh non, nhẹ cân; Mắc tật khúc xạ như cận thị hay viễn thị; Chấn thương vùng quanh mắt; Bệnh lý ở mắt: Đục thủy tinh thể, sụp mí, sẹo giác mạc; Phẫu thuật các bệnh lý ở mắt; Nhiễm trùng…

Cá hình thái lác (lé) mắt.

Cá hình thái lác (lé) mắt.
Các triệu chứng của lác mắt
Dấu hiệu chính của lác mắt là một mắt không nhìn thẳng. Đôi khi trẻ em sẽ liếc mắt một bên khi nhìn dưới ánh sáng mặt trời hoặc nghiêng đầu để sử dụng hai mắt đồng thời.

Lác giả: Mắt của trẻ sơ sinh thường có vẻ như nhìn chéo nhau, mặc dù thực ra không phải như vậy. Tình trạng này được gọi là “lác giả”. Trẻ nhỏ thường có mũi phẳng, rộng, và có một nếp da ở trong mi mắt có thể làm cho hai mắt có vẻ như nhìn chéo nhau. Sự xuất hiện của tình trạng giả lác có thể cải thiện khi đứa trẻ lớn lên. Trẻ sẽ không tiến triển thành lác thật sự. Bác sĩ chuyên khoa mắt có thể phân biệt giữa lác thật sự và lác giả.

Giảm thị lực do lác mắt
Thị lực tốt hình thành trong thời thơ ấu khi cả hai mắt có sự phối hợp tốt khi nhìn. Lác mắt có thể gây giảm thị lực ở mắt nhìn lệch. Não bộ sẽ tập trung vào hình ảnh thu được từ mắt nhìn thẳng và loại trừ hình ảnh từ mắt nhìn lệch. Nếu tình trạng này không thay đổi trong những năm đầu đời thì mắt bị nhìn lệch có thể không có thị lực tốt, hoặc thậm chí có thể mất thị lực. Giảm thị lực do lác mắt xuất hiện ở khoảng một nửa số trẻ bị lác. Giảm thị lực có thể được điều chỉnh bằng cách che hoặc làm mờ mắt bình thường để tăng cường hoặc cải thiện thị lực ở mắt nhìn kém. Nếu lác mắt phát hiện được trong một vài năm đầu đời, việc điều trị thường thành công. Nếu trì hoãn điều trị, giảm thị lực có thể trở thành vĩnh viễn. Về nguyên tắc, điều trị lác càng sớm thì thị lực càng được cải thiện.

Ảnh hưởng tới thẩm mỹ và tâm lý: Bệnh lé mắt gây mất thẩm mỹ, khiến người bệnh dần cảm thấy mất tự tin khi học tập, tham gia các hoạt động xã hội hoặc công việc cần tới giao tiếp.

Khi có biểu hiện của bệnh, cần đưa trẻ đi khám để được phát hiện và xử trí kịp thời.

Khi có biểu hiện của bệnh, cần đưa trẻ đi khám để được phát hiện và xử trí kịp thời.

Cách điều trị bệnh
Tùy từng trường hợp bị lé mắt, bệnh nhân có thể áp dụng một hoặc phối hợp nhiều cách điều trị sau: Đeo kính để giúp mắt nhìn thẳng cho các trường hợp bị lé do quy tụ điều tiết hoặc kèm tật khúc xạ; Tập luyện: Tập quy tụ, tập liếc sang hướng ngược chiều mắt bị lé để tập cho mắt lé có thể nhìn chính xác vào các vật. Tiếp theo là tập trên máy chỉnh quang để hợp thị 2 mắt; Che mắt ở mắt khỏe hơn và tập nhìn mọi vật bằng mắt lé để cải thiện thị lực; Tiêm thuốc botulinum toxin cho các trường hợp lé thứ phát ở người lớn do liệt cơ vận nhãn trong thời gian chờ phẫu thuật. Phương pháp này giúp giải quyết tạm thời tình trạng song thị ở bệnh nhân; Phẫu thuật chỉnh lại cơ vận nhãn không cân bằng. Ở trẻ bị lác dai dẳng, phẫu thuật sớm giúp cải thiện cơ hội phục hồi hoặc tăng cường thị lực ở 2 mắt. Ở người lớn, phẫu thuật giúp khôi phục lại diện mạo bình thường, cải thiện thị lực 2 mắt, làm mất hoặc giảm nhìn đôi, cải thiện chức năng xã hội – giao tiếp.

Bệnh lác mắt nên được chẩn đoán và điều trị sớm để thu được kết quả trị liệu tốt hơn. Vì vậy, nếu trẻ hoặc người lớn có biểu hiện nhìn lệch, mắt lé, mắt hiếng, ngay nghiêng hoặc quay đầu khi nhìn, song thị,… cần đến ngay các cơ sở y tế chuyên khoa mắt để khám và điều trị.

BS. Minh Châu

Tổn thương thận cấp ở bệnh nhân COVID-19

0

Suckhoedoisong.vn – COVID-19 là một bệnh truyền nhiễm mới, biểu hiện chủ yếu là viêm phổi cấp tính nhưng có thể ảnh hưởng đến nhiều cơ quan như thận, tim, đường tiêu hóa, máu và thần kinh hệ thống, đặc biệt các bệnh nhân mắc bệnh thận giai đoạn cuối (ESRD).


Hiện tại không có phương pháp điều trị nhằm tiêu diệt SARS-CoV-2, dù một số loại thuốc đang được tích cực điều tra trong các thử nghiệm lâm sàng. Chăm sóc bệnh nhân (BN) COVID-19 vẫn chủ yếu hỗ trợ, đặc biệt là tại ICU (Đơn vị Chăm sóc tích cực các BN nguy kịch) – nơi các nguyên tắc chung để quản lý ARDS và nhiễm trùng huyết là tối quan trọng.

Một cân nhắc quan trọng là tỷ lệ BN cuối cùng sẽ cần điều trị thay thế thận. Nhu cầu lọc máu thường phát sinh trong tuần thứ 2 của nhiễm trùng và ảnh hưởng đến 5% bệnh nhân tại ICU. Cả đại dịch Hội chứng hô hấp cấp tính nặng (SARS) và Hội chứng hô hấp Trung Đông (MERS) đều do Coronavirus gây ra mang một mức độ tương đồng cao với SARS-CoV-2.

Chắc chắn câu hỏi đặt ra là liệu điều trị thay thế thận có nên được tiếp cận khác nhau trong bối cảnh chăm sóc cấp tính hay không. Nếu cơn bão cytokine góp phần gây nên mức độ nghiêm trọng ở BN COVID-19, thì theo lý thuyết, độ thanh thải dựa trên đối lưu có thể vượt trội hơn trong việc loại bỏ các cytokine kích thước lớn, khi so sánh với các phương thức dựa trên khuếch tán.

Mặc dù lập luận này đã được đưa ra nhiều lần trong việc kiểm soát nhiễm trùng huyết, nhưng bằng chứng lâm sàng tốt nhất thì chưa có kết luận. Các quyết định trong cộng đồng địa phương của chúng tôi về phương thức lọc máu đã được thông báo bằng sự nhạy bén của bệnh, với liệu pháp thay thế thận liên tục (CRRT) hoặc thẩm tách máu hiệu quả thấp (SLED) dành cho những BN quá yếu không chịu được chạy thận nhân tạo thường quy (HD). Trong trường hợp không có dữ liệu chứng minh rõ ràng sự vượt trội của một phương thức này so với phương thức khác, sự lựa chọn phương thức lọc máu nên được thông báo trước bởi các nguồn lực sẵn có và kinh nghiệm và khả năng chuyên môn của mỗi trung tâm.
COVID-19 ảnh hưởng đến nhiều cơ quan, đặc biệt các BN mắc bệnh thận giai đoạn cuối.

COVID-19 ảnh hưởng đến nhiều cơ quan, đặc biệt các BN mắc bệnh thận giai đoạn cuối.

Phải làm gì?
Dù tỷ lệ tử vong do nhiễm SARS-CoV-2 có vẻ thấp hơn so với các đại dịch Coronavirus trước đó, tỷ lệ mắc sẽ lớn hơn nhiều do sự xâm nhập toàn cầu của nó.

Thảm họa suy thận xảy ra sau đó, theo đó những người bị suy thận có nguy cơ không được tiếp cận với dịch vụ chạy thận nhân tạo, có thể buộc các quyết định khó khăn được đưa ra xung quanh việc phân bổ nguồn lực và ưu tiên chọn lựa BN để điều trị. Kế hoạch dự phòng hiện nay là rất cần thiết.

Ngoài việc cung cấp dịch vụ chăm sóc thẩm tách máu duy trì cho BN mắc bệnh thận giai đoạn cuối trong cộng đồng, các BV còn phối hợp với các BV lân cận khác để cung cấp liệu pháp thay thế thận tại ICU.

Nên thực hiện các biện pháp dưới đây
Thực hiện các biện pháp phòng ngừa tiếp xúc và các quy trình sàng lọc phổ quát tại cơ sở thận nhân tạo, để tiếp tục cung cấp dịch vụ chăm sóc lọc máu duy trì suốt đời cho BN nghi ngờ hoặc dương tính với COVID-19, trong khi vẫn đảm bảo an toàn cho tất cả BN và nhân viên khác. Một nguyên tắc hướng dẫn ngay từ đầu là giữ cho BN ESRD ổn định ra khỏi bối cảnh chăm sóc cấp tính, để không gây thêm gánh nặng cho các BV lân cận.

Đánh giá năng lực CRRT hiện tại của BV và các mô hình sử dụng theo xu hướng trong quá trình bùng phát COVID-19. Mặc dù hiện tại bệnh viện vẫn có đủ năng lực nhưng tình hình dịch có thể tăng nhanh.

Tham gia với các hệ thống chăm sóc sức khỏe tại địa phương để đánh giá sự sẵn có của nguồn lực và xu hướng điều tra số ca COVID-19 hiện có, nhằm giải quyết tốt hơn nhu cầu phát triển của liệu pháp thay thế thận ở cấp độ khu vực.

Liên lạc thường xuyên với các bác sĩ lâm sàng để xem xét thực hành kê đơn. Nên giảm thời gian điều trị HD ngắt quãng xuống còn 3 giờ hoặc ngắn hơn khi thích hợp và đáp ứng nhu cầu lâm sàng.

Ưu tiên an toàn đội ngũ nhân viên thông qua tuyên truyền. Giao tiếp với các đối tác chăm sóc sức khỏe tại địa phương là rất quan trọng để tạo sự liên kết xung quanh việc sử dụng các biện pháp phòng ngừa tiếp xúc với giọt nước, so với các biện pháp phòng ngừa trong không khí đối với một số bệnh nhân ICU và các quy trình phun khí dung. Các chiến lược giúp giảm bớt căng thẳng bao gồm chuyển từ các bài tập điều dưỡng 1: 1 để cho phép chăm sóc đồng thời nhiều bệnh nhân. Tần suất lọc máu cần được giảm xuống.

BSCKII. Lê Tự Định

Người cao tuổi cần ăn, uống gì để tăng đề kháng chống lại COVID-19

0

Suckhoedoisong.vn – Người cao tuổi và người có bệnh mạn tính mắc bệnh COVID-19 chiếm tỷ lệ cao, là do họ có sức đề kháng và miễn dịch kém hơn các đối tượng khác.

Theo thống kê về các đối tượng mắc bệnh COVID-19, thì người cao tuổi và người mắc bệnh mạn tính chiếm tỷ lệ cao, do sức đề kháng và miễn dịch kém hơn các đối tượng khác. Sức đề kháng và miễn dịch của con người được hình thành và phát triển kể từ khi họ được sinh ra, điều kiện quyết định để tạo ra sức đề kháng và miễn dịch khỏe mạnh là do chế độ dinh dưỡng lành mạnh, cân đối và lối sống.

Theo ThS. BS Nguyễn Văn Tiến – Viện Dinh dưỡng đối với người cao tuổi nhu cầu năng lượng của người 60 tuổi giảm đi 20%, ở người trên 70 tuổi giảm đi 30% so với người 25 tuổi. Theo khuyến nghị với người cao tuổi nhu cầu về năng lượng là từ 1700-1900 kcal/người/ngàyNhu cầu protein từ 60-70 gam/ngày, trong đó đạm động vật chiếm 30% tổng số protein. Người cao tuổi ăn ít thịt, thay vào đó là các thực phẩm giàu can xi như: cá, tôm, cua (100 g tép chứa 910 mg can xi, 100 g cua chứa 5040 mg can xi). Nên ăn ít nhất 3 bữa cá/1 tuần, 3 quả trứng/ 1 tuần, nên ăn thêm sữa chua (dễ tiêu và có lợi cho tiêu hóa). Về chất béo: nên ăn cả dầu thực vật và mỡ động vật, tỷ lệ chất béo thực vật chiếm 35% tổng lượng chất béo.

ThS. BS Nguyễn Văn Tiến (Viện Dinh dưỡng) chia sẻ về ăn, uống gì để tăng đề kháng chống lại COVID-19.

Luôn đảm bảo ăn 3-4 bữa mỗi ngày, ăn nóng, thức ăn nên luộc, hấp nấu chín mềm. Nếu ăn không đủ nên uống thêm các loại sữa bổ sung dinh dưỡng, từ 1-2 cốc mỗi ngày, BS Tiến nhấn mạnh.

Cũng theo BS Tiến, những người đang mắc các bệnh mạn tính: như đái tháo đường, tăng huyết áp, bệnh gout,… cần thực hiện nghiêm ngặt theo chỉ định của bác sỹ điều trị và bác sĩ dinh dưỡng về sử dụng thuốc điều trị thường xuyên và thực hiện chế độ dinh dưỡng bệnh lý.

Vai trò của một số vitamin và khoáng chất để nâng cao sức đề kháng và miễn dịch:

  • Vitamin A: Có vai trò rõ rệt cả với miễn dịch dịch thể và miễn dịch tế bào. Tỷ lệ tử vong do nhiễm khuẩn ở trẻ em mà nguyên nhân do thiếu vitamin A rất cao. Những nghiên cứu gần đây đã khẳng định rằng biện pháp bổ sung vitamin A có thể làm giảm 23% tử vong ở trẻ em. Thiếu vitamin A làm giảm sức đề kháng – miễn dịch tăng nguy cơ mắc bệnh nhiễm trùng và tăng tỷ lệ tử vong ở trẻ em. Thiếu vitamin A các biểu mô quá sản, sừng hoá, các tuyến ngoại tiết giảm bài tiết, khả năng ngăn cản sự xâm nhập của vi khuẩn giảm đi. VitaminA có nhiều trong gấc, rau ngót rau dền cơm, gan gà, gan lợn, gan bò,…
  • Vitamin E: Vitamin E làm tăng tính miễn dịch bằng cách bảo vệ tế bào khỏi bị tổn thương, do đó tăng sức đề kháng của cơ thể với các bệnh nhiễm khuẩn mạnh hơn, làm chậm tiến triển bệnh sa sút trí tuệ (Alzheimer), bảo vệ vitamin A và chất béo của màng tế bào khỏi bị o xy hóa, tham gia vào chuyển hóa tế bào. Vitamin E bảo vệ các chất béo trong não khỏi các gốc tự do, đặc biệt là các chất béo omega-3 DHA và EPA, trong đó tập trung ở tế bào thần kinh. Vitamin E có nhiều trong các thực phẩm nguồn gốc tự nhiên: đậu tương, giá đỗ, vừng lạc, mầm lúa mạch, dầu hướng dương, dầu ô-liu và các loại rau có lá màu xanh đậm.
  • Vitamin C: Vai trò tăng cường miễn dịch, cần thiết cho các tế bào miễn dịch T và bạch cầu, từ đó làm tăng chức năng của hệ miễn dịch. Thiếu vitamin C, sự nhậy cảm với các bệnh nhiễm khuẩn tăng lên, tính thấm mao mạch tăng, mạch dễ vỡ, da khô ráp. Nếu ăn đủ vitamin C, các glubulin miễn dịch IgA và IgM tăng, hoạt tính của bạch cầu tăng, kích thích chuyển dạng các lymphô bào và giúp tạo thành các bổ thể. Hơn 90% lượng vitamin C có trong khẩu phần ăn được cung cấp từ các loại trái cây và rau củ. Các thực phẩm giàu vitamin C: rau ngót, rau mùi tàu, rau dền, rau đay, rau mồng tời, hành hoa, …trong các loại quả như bưởi, đủ đủ, quýt, cam, chanh,…
  • Vitamin D: Là một vitamin tan trong chất béo, có liên quan đến các chức năng khác nhau của hệ thống miễn dịch, tiêu hóa, tuần hoàn và thần kinh. Nguồn chính của vitamin D là tổng hợp ở da dưới ảnh hưởng của bức xạ tia cực tím mặt trời B (UV-B) chiếm 80-90% và khoảng 10-20% do chế độ ăn uống, do đó, mỗi ngày cần tắm nắng từ 15-30 phút, tăng cường sử dụng các thực phẩm giàu vitamin D như gan cá, lòng đỏ trứng, cá, hải sản… cho bữa ăn hàng ngày.
  • Vitamin nhóm B: Trong các vitamin nhóm B, vai trò các folat và pyridoxin đáng chú ý hơn cả. Thiếu folat làm chậm sự tổng hợp của các tế bào tham gia vào các cơ chế miễn dịch. Tương tự như thiếu sắt, miễn dịch dịch thể ít bị ảnh hưởng hơn miễn dịch qua trung gian tế bào. Trên thực tế ở trẻ em nhất là phụ nữ có thai, thiếu folat thường đi kèm thiếu sắt là hai yếu tố gây thiếu máu dinh dưỡng. Thiếu pyridoxin (vitamin B6) làm chậm các chức năng miễm dịch, cả dịch thể và trung gian tế bào. Các vitamin  nhóm B có nhiều trong cám gạo, ngũ cốc, các loại hạt đậu, mè, mầm lúa mì, tim, gan.

Tăng cường ăn rau quả để tăng sức đề kháng.

Vai trò của một số chất khoáng và miễn dịch.

Rất nhiều chất khoáng và vi khoáng tham gia vào miễn dịch, trong đó vai trò của sắt, kẽm được nghiên cứu nhiều hơn cả.

  • Sắt: Sắt cần thiết cho tổng hợp AND, nghĩa là nó cần thiết cho quá trình phân bào. Ngoài ra sắt còn tham gia vào nhiều enzym can thiệp vào quá trình phân giải bên trong tế bào. Thiếu sắt, nhiễm khuẩn tăng. Sắt gây ảnh hưởng đến miễn dịch qua trung gian tế bào hơn là miễn dịch dịch thể. Sắt có nhiều trong mộc nhĩ, nấm hương, rau dền đỏ, đậu tương, tiết bò, bầu dục lợn, lòng đỏ trứng vịt, cua đồng,..
  • Kẽm: Kẽm giúp tăng cường miễn dịch, giúp làm vết thương mau lành và giúp duy trì vị giác và khướu giác. Kẽm tham gia vào hàng trăm enzym chuyển hóa trong cơ thể, vì vậy khi thiếu kẽm trẻ dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp, tiêu hóa do giảm sức đề kháng. Ngoài ra khi thiếu kẽm trẻ thường có biểu hiện biếng ăn chậm lớn, chậm phát triển chiều cao. Các thức ăn giàu kẽm như thịt, cá, tôm, sò, sữa, trứng, ngao, hàu,..

Giá trị dinh dưỡng có trong 100g của một số loại rau xanh và hoa quả như sau:

Trong các kết quả nghiên cứu cho thấy:

Rau xanh: rau ngót, rau đay, rau dền là những loại có gía trị dinh dưỡng cao, đồng đều về hàm lượng caroten, vitamin C  (179 – 64 – 52 mg%), hàm lượng sắt (2,8 – 2,5 – 2,1 mg%), giàu các muối khoáng, vi khoáng, lượng protein cao gấp 3 – 5 lần các loại rau khác (3 – 6 g%). Rau muống có giá trị dinh dưỡng trung bình (380 mcg% retinol; 2,8 mg% vitamin C; 1,2 mg% sắt).

Các loại rau gia vị như: mùi, tía tô, húng, thìa là,..có hàm lượng caroten cao và đồng đều hơn so với rau ăn và quả ngọt, cao nhất là tía tô, húng quế, ớt vàng, đồng thời chúng giàu sắt (1- 3 mg% ). Rau gia vị lại được sử dụng tươi sống không bị tổn thất dinh dưỡng qua nấu nướng, nên giá trị sử dụng các vitamin rất cao. Ngoài ra các rau gia vị còn cung cấp nguồn kháng sinh thực vật rất có giá trị.

Các loại quả chín màu vàng, đỏ, da cam như: đu đủ, hồng, dưa hấu, cam, quýt vàng có hàng lượng caroten khá cao và giàu sắt (0,9 – 1,2 mg%). Đặc biệt màng gấc tươi có hàm lượng caroten đặc biệt cao. Đây là một loại quả qúi được nhiều người quan tâm nghiên cứu về khả năng phòng bệnh thiếu vitamin A, chống oxy hoá và ung thư.

Hà Đăng ( ghi)

MOST COMMENTED

Misthy bức xúc vì bị người yêu của bạn thân rêu...

Trong livestream mới nhất, Misthy đã chia sẻ về lùm xùm này. Cô khẳng định mình không quen, cũng không "qua đêm" với Phi...